THƯ MỜI
Trân trọng kính mời: - Quý Niên Trưởng, Quý Chiến Hữu Cựu TNCT
THỜI GIAN : Thứ Bảy ngày 18 tháng 02 năm 2023.
Vào lúc 11 giờ 00 AM (SẼ KHAI MẠC ĐÚNG GIỜ)
THƯ MỜI
Trân trọng kính mời: - Quý Niên Trưởng, Quý Chiến Hữu Cựu TNCT
THỜI GIAN : Thứ Bảy ngày 18 tháng 02 năm 2023.
Vào lúc 11 giờ 00 AM (SẼ KHAI MẠC ĐÚNG GIỜ)
Lê Nguyễn
THỰC HƯ CHUYỆN CHUỒNG CỌP CÔN SƠN
Trước tiên, cần phải xác định với nhau rằng, trong bất kỳ chế độ lao tù nào, từ thời Pháp thuộc đến nay, “biệt giam” là hình thức giam cầm dành cho những tù nhân không chấp hành qui định do trại giam đề ra, có những hành vi “nguy hiểm” theo nhận định của giới hữu trách đương thời.
Với thời Pháp thuộc, đó là những cát-sô (cachot), xà-lim (cellule), là những căn phòng tối tăm, chật hẹp, thiếu các tiện nghi tối thiểu; với chế độ “cải tạo” sau 30 Tháng Tư 1975 là những connex bằng kim loại kín bốn bề, không cao quá đầu người, có thanh sắt để cùm hai chân lại, và với chế độ Nguyễn Văn Thiệu thời VNCH là… Chuồng cọp (trên thực tế, Chuồng cọp được chính quyền Pháp xây dựng từ năm 1940).
Nếu so sánh từng chế độ biệt giam vào những thời điểm khác nhau, khó có thể xác định chế độ nào khắc nghiệt hơn chế độ nào. Thế nhưng tại sao vào những năm cuối thập niên 1960, chuyện “Chuồng cọp Côn Sơn” lại gây sóng gió trong dư luận quốc nội và quốc tế như vậy?
Cuối Tháng Mười Hai 1970, khi tôi đặt những bước chân đầu tiên lên Côn Đảo thì scandal Chuồng cọp mới vừa lắng xuống. Khi đó, những người tù chống đối đã được đưa về các dãy trại, khu Chuồng cọp trở nên vắng lặng. Nó gồm hai dãy phòng biệt giam, mỗi phòng có lẽ chỉ để giam giữ một người, vì bên trong chỉ thấy có một cái bệ bằng xi-măng cao khoảng hai tấc, dài đủ cho một người nằm.
Tường của phòng biệt giam cao khoảng 2,5m – 3m, còn cách với mái nhà một khoảng khá xa, vì thế trại giam đã gắn những chấn song sắt bên trên các phòng giam, vừa để phạm nhân không thể trèo tường trốn đi, vừa để các giám thị có thể đi bên trên nhìn xuống kiểm soát chung, không phải mở cửa từng phòng giam bên dưới. Chính những bức ảnh chụp qua các song sắt gắn trên các dãy phòng giam cho thấy hình ảnh người tù ngồi bên dưới ngước mặt nhìn lên đã tạo cho người xem một ấn tượng mạnh.

Cuối năm 1970, tại Côn Đảo, scandal Chuồng cọp vẫn còn nóng hổi, song từ ấy đến nay, chúng đã được kể lại dưới thiên hình vạn trạng, với những góc nhìn, những nhận định rất khác nhau. Câu chuyện dưới đây chỉ là một trong những “dị bản” của chuyện Chuồng cọp Côn Sơn, bạn đọc cũng đừng ngạc nhiên khi đã từng đọc những chuyện kể khác hơn thế:
Chuyện kể rằng, ngày nọ, một (hay vài?) anh sinh viên từng bị giam trong khu Chuồng cọp ở Côn Đảo, sau khi được phóng thích, đã hẹn gặp mấy ký giả phương Tây đang săn tin tại Sài Gòn. Họ kể cho những ký giả này nghe những gì họ đã trải qua tại các trại giam cùng Chuồng cọp Côn Sơn, đồng thời cung cấp cho những người này bản đồ vẽ rõ vị trí của khu Chuồng cọp so với các trại giam khác.
Không có gì đáng lấy làm lạ khi những bản tin đầu tiên của các ký giả phương Tây đã gây nên một cú sốc trong dư luận quốc tế, giữa lúc cuộc hòa đàm Paris đang hồi gay cấn và các phong trào phản chiến đang sôi sục khắp nước Mỹ.
Xét về mặt nhân quyền thì giữa chế độ lao tù ở Mỹ và nhiều nước phương Tây với chế độ lao tù ở phần lớn các nước châu Á có một khoảng cách rất lớn. Ở các nước phát triển, người tù còn sướng hơn những công nhân tự do và sống kham khổ ở các nước nghèo khó; họ có TV để xem, có thể dùng điện thoại liên lạc với gia đình và gần đây, người ta còn đưa ra sáng kiến giảm tải cho các nhà tù bằng cách cho phạm nhân về sống với gia đình, chỉ phải đeo vào cổ chân một thiết bị định vị để ban quản lý theo dõi thường xuyên.
Với những chế độ nhà tù như thế ở nước họ, làm sao họ không xúc động khi nghe mô tả về Chuồng cọp? Ngoài báo giới, nhiều dân biểu Mỹ, nhất là những người thuộc đảng đối lập với đảng cầm quyền, đã lớn tiếng chỉ trích mạnh mẽ chế độ lao tù tại miền Nam và yêu cầu chính quyền Washington xem lại cung cách hỗ trợ chính quyền Sài Gòn. Họ thành lập đoàn đại biểu đi sang Việt Nam để xem xét tình trạng giam giữ như thế nào.
Điều dễ hiểu là sự rúng động ở Washington tác động mạnh lên tâm lý của các nhà cầm quyền ở Sài Gòn và Côn Đảo. Người ta kể rằng, ngày nọ có một phái đoàn ra thăm Côn Đảo, không rõ là báo giới hay dân biểu, nghị sĩ Mỹ, xin tạm gọi là “phái đoàn Mỹ”. Người hướng dẫn họ đi thăm các trại giam là một sĩ quan thuộc Bộ chỉ huy Đặc khu Côn Sơn (xin miễn nêu tên).
Có lẽ do có sự bàn soạn trước, vị sĩ quan đưa họ đi loanh quanh các trại giam và khẳng định không có Chuồng cọp ở đâu cả. Phái đoàn Mỹ không nói gì, xin người hướng dẫn cho họ đi tham quan vài di tích gần thị xã, trên đường đi, họ rẽ lên một ngôi chùa trên đồi cao. Đến nơi, họ kín đáo giở tấm bản đồ vị trí khu Chuồng cọp do anh sinh viên cung cấp; định vị xong, họ trở xuống khu trại giam và xăm xăm tiến đến khu Chuồng cọp chỉ cách trại 4 (?) bằng một khung cửa hẹp.

Từ đó những hình ảnh Chuồng cọp Côn Đảo chụp từ trên xuống qua các song sắt bên trên các phòng biệt giam được phổ biến rộng rãi trong giới truyền thông phương Tây, và dư luận chống đối ngày một sôi nổi hơn. Rồi mọi việc cũng lắng xuống, Trung tâm Cải huấn Côn Sơn được cấp kinh phí xây dựng một trại mới gọi là Trại 7, theo cách xây dựng lúc bấy giờ, tường dày không đến hai tấc, mái thấp lợp tôn.
Khu trại 7 này nằm giữa bốn bề trống trải, không gợi lên một cảm giác gì là… “chuồng cọp”, song về mặt tiện lợi, không thể sánh được với những kiến trúc do người Pháp xây dựng, kể cả trại giam, với hầu hết là tường bằng đá dày bốn tấc, mái ngói cao. Những người tù chống đối lúc ấy cũng biết điều đó, khi được lệnh di chuyển về Trại 7 vừa xây xong, họ phản kháng quyết liệt, cuối cùng những cơ quan có trách nhiệm đã phải dùng những biện pháp nghiệp vụ “cứng rắn” nhất để đưa họ đến đó. Với sự xuất hiện của Trại 7 này, câu chuyện Chuồng cọp Côn Sơn không còn khuấy động dư luận nữa.
LỜI KẾT
Vào những năm cuối thập niên 1960, báo chí phương Tây đã góp phần không nhỏ trong việc đổ thêm dầu vào ngọn lửa phản chiến đang bùng cháy trên toàn nước Mỹ bằng cách phổ biến những thông tin một chiều về hành động đáng chê trách của quân đội Mỹ và quân đội hay chính quyền VNCH; trong khi hoàn toàn bất lực trước những gì diễn ra trong vùng tạm chiếm của phía VNDCCH và MTGPMN.
Họ phổ biển những hình ảnh dã man tại Mỹ Lai, làm thức tỉnh lương tâm nhân loại, nhưng bất lực trước hàng ngàn người dân Huế vô tội bị vùi xác trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968; họ hả hê trước những hình ảnh của Chuồng cọp Côn Sơn được quay dưới những góc cạnh có chọn lọc để gây sốc trong dư luận, và đớn hèn, khi hoàn toàn quay lưng lại và lờ đi làm như không thấy hoặc không biết trường hợp những người tù cải tạo sau 30 Tháng Tư 1975 bị cùm hai chân trong những connex bốn bề sắt thép kín như bưng, cao không quá đầu người.
Mỉa mai thay, những người tù “cải tạo” đó của giai đoạn sau 1975 là những người xuất thân từ một chế độ từng dành cho họ quyền tự do gần như tuyệt đối để tiếp cận với những góc cạnh thê thảm nhất của cuộc chiến! Trường hợp giữa tướng VNCH Nguyễn Ngọc Loan và phóng viên Mỹ Eddie Adams là bài học đắt giá của những người làm báo phương Tây.
Lịch sử đòi hỏi sự công bằng, lịch sử thiếu công bằng là một thứ lịch sử què quặt, tựa lưng vào những dối lừa, gạt gẫm. Lịch sử nhà Nguyễn từng là nạn nhân của những trò này, khi người ta quảng bá rùm beng chuyện Nguyễn Ánh trả thù tàn bạo nhà Tây Sơn mà cố tình giấu kín những hành vi tác tệ không kém của anh em nhà Tây Sơn: Quật mồ tổ tiên nhiều đời của họ Nguyễn, phá hủy đình chùa, sát hại dã man những chúa Nguyễn đã đại bại dưới tay mình…
Ở Côn Đảo ngày nay, những trò tra tấn dã man trước 1975 – có thật cũng như không có thật – đang được các thuyết minh viên tại hòn đảo lịch sử đó rao giảng ngày này qua ngày khác, với những du khách lần đầu đến tại “địa ngục trần gian” hình thành từ thời nhà Nguyễn. Không ít du khách ra về với niềm tin tưởng tuyệt đối vào những gì nghe thấy và sự căm thù một chế độ đã sụp đổ cách đây gần 50 năm có dịp được khoét sâu hơn trong lòng họ. Không ít khán thính giả của những buổi thuyết minh này là con cháu của các giám thị cải huấn, công chức, quân nhân VNCH trước 1975. Họ nghĩ sao về cha ông họ? Căm thù chăng?
Tôi tâm đắc những câu viết này của nhà báo Mạnh Kim trong một bài đăng trên Facebook cách đây khá lâu:
“Trong chiến tranh, việc tuyên truyền và ngụy dựng hình ảnh “anh hùng” là liều “doping” kích thích tinh thần. Nhưng sau chiến tranh, tuyên truyền đã trở thành liều thuốc độc. Nó làm hư hỏng nhận thức thế hệ trẻ… Nếu lấy những sai lầm lịch sử để biện minh cho sai lầm hiện tại thì sẽ chẳng có bài học nào được rút ra để tránh lặp lại sai lầm cho tương lai” (hết trích).
Kể chuyện lịch sử cần phải công bằng, mập mờ giữa sự thật và sự không thật nhằm khoét sâu hận thù giữa các thành phần dân tộc sau khi một chế độ đã sụp đổ từ lâu là điều mà những người làm du lịch nên suy nghĩ lại. Lợi ích trước mắt của những đồng tiền do hoạt động du lịch mang lại không bù đắp được những tổn hại về tinh thần mà các thế hệ ngày nay và mai sau phải gánh chịu.
Ngày nay, bên cạnh những bài kinh nhật tụng của các thuyết minh viên ở nhà tù Côn Đảo, Phú Quốc về “tội ác Mỹ-Ngụy”, còn có không ít hồi ức của những người tù cải tạo sau 30 Tháng Tư 1975 kể lại những gì họ đã trải qua trong năm năm, 10 năm, 15 năm “học tập cải tạo” tại các trại giam trải suốt chiều dài đất nước.
Sau hơn 47 năm thống nhất đất nước, hàng triệu người Việt Nam vẫn còn thiếu đói, hàng triệu trẻ em nghèo khó ở những vùng xa vẫn còn đến trường với những manh áo cơ hàn, đất nước tụt hậu so với những người bạn láng giềng kém cỏi nhất, nhắc nhở lại, khoét sâu thêm vết thương cũ làm chi? Sao chúng ta không sống cho hiện tại và tương lai của con cháu mình, bớt đi một chút lòng tham, hạn chế đôi phần lãng phí, góp sức làm cho cuộc sống này sạch sẽ hơn, minh bạch hơn, nhân bản hơn, để khi đi ra nước ngoài, nhìn người bản xứ, ta ngẩng đầu lên, không cúi mặt xuống trước cái nhìn rẻ rúng của họ?
HẾT
________
Hồ sơ: Côn Đảo, những điều chưa kể
________
Tác giả bài viết tên thật là Lê Văn Cẩn, tốt nghiệp khóa 10 Học viện Quốc gia Hành chánh (1965), từng giữ nhiều chức vụ khác nhau trong 10 năm công vụ: Phó Quận trưởng, Trưởng ty, Phụ tá Hành chánh tỉnh, Phụ tá Hành chánh Côn Sơn; chức vụ cuối cùng là Phụ tá Tỉnh trưởng đặc trách phát triển kinh tế thuộc Văn phòng Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo.
Hồ sơ này ông gửi riêng cho Saigon Nhỏ.
NGUỒN : https://saigonnhonews.com/nhin-lai-lich-su/con-dao-su-that-va-nhung-dieu-khong-that-9/
Ông Nguyễn Hữu Cầu, cựu đại úy trong quân đội
Việt Nam Cộng Hòa, bị Cộng Sản Việt Nam cầm tù 37 năm, vừa qua đời tại
quê quán Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, hưởng thọ 75 tuổi. Nguồn tin của báo
Dân Việt hôm thứ Hai, 19 tháng 12, không ghi rõ ông Cầu mất ngày nào.
Ông Nguyễn Hữu Cầu sinh năm 1947, từng là cựu đại úy Chủ Lực Quân, xuất thân khóa 6/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, ra trường về phục vụ tại Tiểu Khu Quảng Nam, thuộc vùng 1 chiến thuật - quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Ông Cầu bị bắt làm tù binh sau khi vùng 1
chiến thuật thất thủ vào đầu tháng Tư, 1975. Sau ngày 30 tháng 4, 1975
khi miền Nam sụp đổ, ông bị chuyển từ tù binh sang tù học tập cải tạo.
Đến cuối năm 1980, sau hơn 5 năm bị tù cải tạo, ông được thả về nhà lần
đầu.
Sau đó, vì làm đơn tố giác hai cán bộ đảng viên của tỉnh Kiên Giang hãm hiếp một số nữ thuyền nhân, ông bị đưa ra xét xử vào năm 1983 và bị kết án tử hình với tội danh “Chống phá nhà nước CHXHCN Việt Nam.” Khi đó “bằng chứng” được đưa ra trong tòa là những bài thơ và ca khúc do ông sáng tác.
Sau khi xử phúc thẩm năm 1985, bản án được
giảm xuống thành tù chung thân đày biệt giam ở khu tù chính trị biệt
giam, phân trại K2, Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai.
Trải qua nhiều năm bị giam cầm, ông luôn giữ
vững lập trường, cương quyết không nhận tội, không xin ân xá trước một
bản án mà ông cho là vô lý.
Sau chuyến thăm tù lần đầu tiên được biết mặt
ông nội của mình vào năm 2013, cháu gái Trần Phan Yến Nhi, 14 tuổi, đã
viết thư gởi Ủy Ban Theo Dõi Nhân Quyền Quốc Tế (Human Rights Watch),
lên tiếng kêu cứu và xin thế thân đi tù thay cho ông nội.
Dưới áp lực của Ủy Ban Theo Dõi Nhân Quyền,
báo chí quốc tế, và do sức khỏe của ông ngày càng suy giảm: tim yếu, tai
gần như điếc, một mắt bị mù lòa không còn thị lực, cuối cùng ông đã
được nhà cầm quyền trả về nhà vào 9 giờ tối ngày 21/3/2014. Ông đã ở tù
tổng cộng 37 năm trong nhà giam của chế độ cộng sản.
Trong thời gian ở tù, ông cải sang đạo Công
Giáo vào năm 1986. Người rửa tội cho ông là linh mục Nguyễn Công Đoan
trong cùng trại cải tạo.
Ngoài tội danh chống phá, bản cáo trạng trong phiên tòa xét xử ông, dựa vào bài “Giọt Nước Mắt Chúa” do ông sáng tác, viết rằng: “Tên Nguyễn Hữu Cầu đã sáng tác ra bài hát Giọt Nước Mắt Chúa với ý thức còn mơ tưởng đến sự trở lại của Mỹ, tên Cầu đã ví đế quốc Mỹ như là cha để cầu xin bơ thừa sữa cặn.”
Tại sao bị tù 37 năm?
Trên trang Facebook cá nhân, Văn Toàn và Ngoc
Nhi Nguyen từng viết vào năm 2016, dựa theo “Chuyện do chú nhà văn Võ
Văn Tạo, bạn của chú Cầu kể lại” như sau:
“Tại sao Đại úy Nguyễn Hữu Cầu bị tù đến hơn 37 năm?
“Ông Nguyễn Hữu Cầu , sanh năm 1947 tại Kiên
Giang , vốn là một đại úy trong QLVNCH. Sau năm 1975, ông bị đi đưa học
tập cải tạo, có nghĩa là đưa đi tù trong 5 năm .
“Ra tù, ông Cầu trở về quê hương mới được mấy
tháng thì ông chứng kiến hai cô gái miền Tây đi vượt biên bị bắt, bị
công an và đám Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang hãm hiếp.
“Lúc chúng thả hai cô ra , máu còn chảy ướt
đũng quần. Hai cô gái đau đớn nghẹn ngào khóc ngất bên đường thì gặp ông
Cầu. Nghe câu chuyện thương tâm, ông phẫn nộ liền viết đơn tố cáo tội
ác của đám quan chức địa phương CS .
“Vào năm 1981, VN chưa mở cửa, miền Nam còn
chìm đắm trong sự khủng bố và hành hạ của CS, với chính sách kỳ thị coi
người dân miền Nam như nô lệ, như súc vật muốn bắt là bắt muốn hiếp là
hiếp để gieo rắc sự sợ hãi tận cùng, hòng dễ bề cai trị.
“Vì vậy khi ông Cầu dám tố cáo Phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang và kiện cả Viện trưởng Viện Kiểm Sát đã ăn hối lộ giấu nhẹm vụ hãm hiếp hai cô gái này, thì ông bị bắt, bị kết tội chống phá nhà cầm quyền CS và bị kết án tử hình.
“Người mẹ già của ông Cầu chạy ngược chạy xuôi
kháng án, cuối cùng được giảm từ tử hình xuống chung thân. Vào tù, cứ
cách vài năm thì quản giáo lại dụ ông nhận tội, nói rằng ông nhận thì sẽ
thả sớm. Nhưng ông Nguyễn Hữu Cầu cương quyết không nhận, nói rằng “tôi
tố cáo tội ác đó là đúng.”
“Cứ thế mà bị giam đến 37 năm.
“CS luôn miệng lên án Mỹ Ngụy độc ác trong chiến tranh, vậy còn tội ác tày trời của CSVN đối với người dân trong thời bình, như câu chuyện của ông Cầu, thì sao? Ai chịu trách nhiệm? Ai xin lỗi? Ai đền bù?”
Trẻ em thắp nến tưởng niệm hàng triệu nạn nhân đã chết trong nạn đói 1932-33 Holodomor tại Ukraine, tại thành phố Lviv, ngày 26 tháng 11, 2022. (Yuriy Dyachyshyn/ AFP via Getty Images)
Bài NGÔ NHÂN DỤNG
Mỗi năm, đến tuần lễ thứ tư tháng Mười Một, ngày thứ
Bảy, dân Ukraine lại thắp nến đặt trên bờ cửa sổ. Nghi lễ này bắt đầu từ
năm 1991 khi Ukraine tách ra khỏi Liên Bang Xô Viết. Mục đích là tưởng
niệm những nạn nhân chết đói trong những năm 1932, 1933 do chính sách
bóc lột của Stalin gây ra.
Năm nay, Bộ Ngoại Giao Ukraine nhân dịp này đã tố cáo
chính phủ Nga đang tái diễn tội ác thời Xô Viết: “Cuộc chiến xâm lăng
diệt chủng hiện nay cũng nhằm những mục tiêu như thời 1932-1933: Tiêu
diệt dân tộc Ukraine!”
Theo Tổng Thống Volodymyr Zelensky, “Vladimir Putin
đang dùng nạn đói như một vũ khí tấn công Ukraine” khi phóng các hỏa
tiễn vào các khu dân cư, đánh phá hạ tầng cơ sở, hệ thống giao thông và
các nhà máy điện trong khi mùa Đông đang tới; cho dân Ukraine chết đói
chết rét như thời Stalin.
Zelensky cho biết 17 quốc gia trên thế giới đã công
nhận nạn đói 1932-1933 do Stalin gây ra tại Ukraine là một “tội diệt
chủng” (genocide), như người Ukraine gọi tên tai họa này là “Holodomor.”
“Holodomor,” trong ngôn ngữ Ukraine ghép hai chữ
holod, nghĩa là nạn đói, và mor, là cơn đại dịch. Tên gọi này chỉ được
dùng sau khi Liên Xô theo chính sách Cởi Mở (glasnost) thời Gorbachev
nới lỏng quyền tự do phát biểu. Năm 1987, Bí Thư Thứ Nhất Đảng Cộng Sản
Ukraine đã dùng chữ Holodomor lần đầu, trong bài diễn văn kỷ niệm 70 năm
sau Cách Mạng 1917. Năm sau, Oleksiy Musiyenko, trong hội nhà văn
Ukraine lập lại, từ đó ai cũng dùng theo. Người Ukraine dùng động từ
moryty (морити) với nghĩa là đầu độc, là tra tấn hay làm cho kiệt quệ.
Từ Holodomor được phổ biến rộng rãi khắp thế giới; tháng Hai năm 2021
một vở kịch mang tên Holodomor đã được trình diễn ở Tehran, thủ đô Iran.
Năm 1932, Joseph Stalin hoàn tất chương trình “tập
thể hóa nông nghiệp” trong Ukraine, cũng như các nước Cộng Hòa khác.
Ukraine là nước sản xuất nhiều lúa mì nhất trong Liên Bang Xô Viết, cho
nên bị đặt chỉ tiêu phải đóng góp nhiều nhất. Stalin tin rằng các nông
trường tập thể phải sản xuất nhiều hơn thời kỳ tư nhân canh tác, không
ai dám nói sự thật rằng số nông sản đã tụt giảm. Tháng 11, Stalin ra
lệnh trưng thu tất cả lúa mì, kể cả hàng trăm ngàn tấn thóc để giành làm
hạt giống cho năm sau, vì ông ta nghi ngờ nông dân thế nào cũng cất
giấu. Mùa Đông tới, mỗi ngày có 28,000 người dân Ukraine chết đói, xác
nằm ngay trên lề đường tại các thành phố Kyiv, Kharkov.
Các sử gia ước tính tổng cộng từ 3.5 triệu đến 5
triệu người Ukraine đã chết đói. Nhiều người còn cho rằng Stalin đã
“hoạch toán,” biết trước nạn đói xảy ra nhưng cứ thi hành với mục đích
tiêu diệt phong trào đòi độc lập của dân Ukraine. Sử gia Timothy Snyder,
Đại học Yale, nói với bản tin Reuters ngày 26 tháng 11, 2022, gọi đó là
một “âm mưu giết người tập thể.”
So sánh với Ukraine thì số phận dân Việt Nam còn may
mắn hơn nhiều. Cùng theo chế độ Marx Lenin nhưng Việt Nam không bị Cộng
Sản Trung Quốc trực tiếp cai trị, nhờ có Liên Xô đứng cản trở.
Tuy nhiên Trung Cộng cũng gián tiếp gây ra nạn đói và
chết chóc ở nước ta. Các cố vấn Trung Cộng chỉ huy cuộc Cải Cách Ruộng
Đất giết hại hàng trăm ngàn người, kể cả những người từng ủng hộ Việt
Cộng. Sau năm 1975, Lê Duẩn trở mặt chống Trung Cộng để liên kết với
Liên Xô; nhưng vẫn “học tập Mao Chủ tịch” với một kế hoạch “tập thể hóa
nông nghiệp” phỏng theo Công Xã Nhân Dân của Mao Trạch Đông. Duẩn bắt
đầu thi hành chính sách này, lấy “quê hương cách mạng” ở miền Bắc Trung
phần làm thí điểm. Đó là nơi Cộng Sản Việt Nam đã thí nghiệm tổ chức Xô
Viết Nghệ Tĩnh thời 1930. Năm 1978, dân nhiều làng ven núi ở Thanh Hóa,
Nghệ An được lệnh xóa bỏ các ngôi nhà ở để tăng số đất canh tác. Thanh
niên, học sinh được huy động đi phá nhà đồng bào, đem giường, chiếu, nồi
niêu soong chảo lên sườn đồi, dựng chòi làm chỗ ở. Kết quả là nhiều
người bắt đầu phải nhịn đói.
May mắn cho dân Việt Nam là khi Trung Cộng xua quân
đánh vào các tỉnh biên giới, Lê Duẩn phải ngưng thúc đẩy kế hoạch “tập
thể hóa.” Các cán bộ địa phương, nhìn tận mắt thấy những hậu quả thảm
khốc, nhân cơ hội Bộ Chính Trị bận lo đối phó cuộc chiến tranh biên
giới, đã từ từ ngưng thi hành rồi cho cả kế hoạch “Mao ít hơn Mao” này
chìm xuồng! Nếu còn tiếp tục, chỉ trong một vài năm không biết nạn đói
sẽ giết bao nhiêu người! Chiến dịch “dạy cho Việt Cộng một bài học” của
Đặng Tiểu Bình đã vô tình cứu sống hàng trăm ngàn người Việt thoát nạn
chết đói.
Nhưng Việt Nam chỉ may mắn hơn Ukraine trong một vụ
thoát chết đói đó thôi. Năm 1991 Ukraine may mắn hơn Việt Nam vì đã
thoát khỏi chế độ cộng sản khi Liên Xô tan rã. Đế quốc Trung Cộng chưa
tan, thì Việt Nam còn phải chờ lâu! Hiện nay thì người Việt lại thấy
mình may mắn hơn vì không bị lâm vào cảnh chiến tranh!
Mỗi dân tộc sống với cái “nghiệp” của mình, nhưng
người Việt vẫn thích so sánh. Thí dụ, một vị giáo sư Đại Học Bách Khoa
tôi mới gặp trong Mùa Hè vừa qua. Ông giáo sư này đã đi công tác ở nhiều
nước, từ Nga tới Mỹ, nên tôi có dịp ngồi cùng bàn ăn với ông. Tôi không
muốn nói rõ trường Bách Khoa nào, vì chắc cũng không khác gì nhau.
Có lúc câu chuyện nói đến chiến tranh Ukraine, ông
giáo sư kể lại rằng ngày xưa khi đến Ukraine ông khâm phục vô cùng. Ở
Kyiv, ông thấy những cao ốc nhiều tầng không thua kém gì Moscow hay New
York. Nhưng, bây giờ thì ông thấy nước Ukraine cũng thường, chẳng hơn gì
nước mình. Bởi vì, các thành phố như Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng cũng đầy
rẫy nhà trọc trời!
Sau khi nghe lời ông giáo sư nói, tôi đã hỏi ông một
chuyện thời sự. Ông có biết quân Ukraine mới đánh chìm chiếc tàu chiến
mang tên Mátx Cơ Va (Moskva) hay không? Ông biết chứ, soái hạm Moskva
của hạm đội Hắc Hải bị đánh đắm ngày 14 tháng Tư năm 2022.
Đó là chiếc soái hạm đầu tiên của đế quốc Nga bị đánh chìm kể từ trận hải chiến Nga-Nhật ở eo biển Đối Mã năm 1905.
Ông có biết quân Ukraine đã dùng hai chiếc hỏa tiễn
Neptune R-360 bắn trúng Moskva hay không? Sau khi ông giáo sư gật đầu,
tôi nói thêm: con tàu chiến Moskva đã được chế tạo từ thời còn Liên Bang
Xô Viết, ở thành phố Mykolaiv thuộc nước Ukraine, trên bờ sông Bug chảy
ra Hắc Hải. Những hỏa tiễn Neptune cũng do người Ukraine sáng chế.
Người Ukraine chế tạo được những chiếc tàu thủy lớn như thế, những hỏa tiễn mạnh như thế. Nước Việt Nam mình có làm được hay không? Mấy năm trước, công ty Sam Sung của Đại Hàn, đang lắp ráp các điện thoại ở nước ta, đã đề nghị Việt Nam cung cấp một thứ đinh ốc để lấy tiếng có dự phần sản xuất. Không có xí nghiệp nào ở nước ta sẵn sàng để làm thứ đinh ốc đó. Nào, mời chư vị quân tử, xin lỗi, mời các đồng chí, chúng ta cùng nâng ly!
(Nguồn: VOA Blog)
Giáo Sư Phạm Cao Dương 19 tháng 8, 1945, Việt Minh Cướp Chính Quyền. Nguồn internet. Dù trong nước mườ...