Tuesday, July 28, 2026

CÓ NHỮNG ĐIỀU KHÓ QUÊN

 Huy Phương

  Trong đời sống của chúng ta có những chuyện xảy ra đã lâu, từ vài ba mươi năm qua, những vẫn lẩn khuất đâu đó trong tiềm thức, để một lúc nào đó gợi lại trong trí nhớ hay hiện ra trong giấc mộng. Chúng ta thường không nhớ đến những ngày hạnh phúc, những niềm vui mà những đau khổ, phiền muộn, đắng cay trong đời sống vẫn còn theo đuổi chúng ta cho đến tận cuối cuộc đời.


Ðêm hôm qua trong giấc mơ vào lúc gần sáng, tôi thấy tôi đang ở trong nhà tù cộng sản với niềm vô vọng không biết ngày nào mới được thả về.


Thức giấc, giữa không khí yên lặng và an lạc giữa gia đình, ở một xứ tự do, cách xa cái trại tù năm xưa hàng nghìn dặm, đáng lẽ tôi phải thấy mừng vừa thoát ra khỏi cơn ác mộng, mà trái lại cái cảm giác buồn bã từ đó cứ vương vấn trong lòng tôi cho đến lúc trời bừng sáng. Tôi, một người tù lưu lạc xứ người như trăm nghìn người bạn tù khác, chắc hẳn không thể nào thoát ra nổi những ám ảnh như thế trong nhiều năm hay suốt cả cuộc đời mình.


Có điều là sau bao nhiêu năm tù đày và cả cái đất nước tôi đã sống nhiều năm khi ra tù đã mang lại cho tôi nỗi ghê sợ và căm ghét chế độ cộng sản như thế nào, nhưng nếu nói tìm lại một khuôn mặt quản giáo coi tù hay vệ binh nào đã để lại cái ấn tượng khổ đau cho tôi trong suốt những năm tù, thì tôi không tìm ra. Tôi biết họ là những con người cộng sản, xem chúng tôi là kẻ thù, sẵn sàng trấn áp, đe dọa, thậm chí muốn giết chúng tôi, nếu có dịp, vì họ đứng về phía bên kia chiến tuyến, được huấn luyện và tẩy não cho rằng chúng tôi là kẻ thù của họ. Họ là một đám đông như đám đông của chúng tôi, sẵn sàng bắn vào nhau không thương tiếc ở ngoài trận địa, và bây giờ chúng tôi là những người thất trận, phải chịu sự giày xéo, trả thù của những người thắng trận man rợ.


Có điều tôi thấy rằng, những viên đạn bắn thẳng ngoài mặt trận hay cả những hỏa tiễn, đạn đại bác nổ chụp lên đầu quả không nguy hiểm và đau đớn như một lát dao găm đâm vào hông trong tư thế rất gần, hay một viên đạn bắn từ sau lưng của những người không phải là thù mà mang danh nghĩa là bạn, nói rõ, mỹ miều hơn là với danh xưng chiến hữu, đồng đội.


Trong những tháng đầu tiên ở trại tập trung, một ông sĩ quan cùng ngành, cùng đơn vị với tôi, vì nghĩ rằng mình là gia đình “cách mạng,” vì ông có một người chị dâu là đại sứ của “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” tại Tiệp Khắc nên đã sẵn sàng làm mật báo viên báo cáo lên quản giáo những tư tưởng, hàng động của anh em trong đội. Vào những ngày cuối năm 1975, chưa có chuyện trốn trại, chưa có âm mưu bạo loạn trong nhà tù, nên những chuyện báo cáo chỉ mơ hồ về tư tưởng “không an tâm,” “lơ là lao động,” hay “nhớ nhà.” Chính những buổi lên lớp, qua lời răn đe của quản giáo, chúng tôi biết rõ những cai tù này đã được ai báo cáo. Những lúc nằm gần nhau, cám cảnh xót xa đời tù “một lứa,” với một thằng bạn ngang cấp bậc, cùng chung một đơn vị, còn gì để giấu nhau!


Ra đến đất Bắc, trong thời gian tù miền Nam được các đơn vị quân đội Bắc Việt quản chế, cuộc sống tuy kham khổ nhưng chưa bị đày đọa, gông cùm, sắt máu như khi các trại tù binh miền Nam được chuyển qua cho Bộ Nội Vụ, sau này gọi là Bộ Công An. Dạ dày người tù càng teo tắt thì trí óc càng bị căng thẳng vì những buổi “ngồi đồng” nội bộ, dưới sự giám sát ẩn mặt của những quản giáo, và chủ trì bởi những đội trưởng tín cẩn được cắt đặt bởi cai tù. Chúng tôi đấu tố nhau thẳng tay nhau, anh này lười lao động, người kia lề mề, phát ngôn bừa bãi. Cả một đám “chiến hữu” hầm hè, tưởng như có thể ăn tươi nuốt sống nhau vì một vài lạng sắn ngô để lấy phần từ người khác 13 lạng dồn sang cho anh kia lao động xuất sắc được 17 lạng. Ðội trưởng và phó đội trưởng kế hoạch, một anh ngồi mát, một anh cầm thước đi đo đạc, xem đồng đội ngày xưa như những người tù thực sự và họ đang là người coi tù. Quản giáo, vệ binh, không cần phải ra tay khống chế tù nhân phải làm đạt chỉ tiêu, nạt nộ hay hăm dọa, thay vào đó đã có đội trưởng, đội phó, thi đua làm thay cho cai tù.


Những người này trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, là chiến hữu, đồng đội, sau ngày thất trận cũng mang thân phận những người tù lưu xứ, cùng xuống tàu Sông Hương ra Bắc, tối cũng phải bị lùa vào “chuồng,” nhưng được đặc ân khỏi cầm cuốc cầm rựa, mang ảo tưởng “lao động tốt,” có công với “Cách Mạng” hẳn “được về đoàn tụ với gia đình sớm” như câu kinh nhật tụng mà cai tù ra rả bên tai chúng tôi mỗi ngày. Về sau, khi người tù sắp chết đói thì Cộng Sản ban phát chính sách cho gửi quà, người tù bình thường được một phiếu quà, nhưng bị đội trưởng báo cáo, người tù sẽ mất phiếu quà và đương nhiên những phiếu quà này được chuyển sang cho những người có công “khuyển mã.”


Hơn 35 năm trôi qua, tôi chưa quên được hình ảnh người đội trưởng, một đại úy cùng ngành phục vụ tại trường CTCT Ðà Lạt, đã từ chối không cho tôi khai bệnh, mặc dù suốt đêm qua, tôi đã kiệt lực, sốt vì đuối sức. Ðội phó kế hoạch, là người đi đo đạc, tiếp thu “thành quả lao động” của người tù (hay bạn tù), một cựu đại úy Hải Quân, thì chiều hôm qua đã “nặng mặt” với tôi, vì hố sắn đào không sâu, chưa đạt chỉ tiêu và anh cho biết những kết quả này sẽ được báo cáo lên trưởng trại. Mỗi hố sắn phải có mỗi chiều 8 tấc, sâu 6 tấc. Ðào hố xong, phải ủ phân xanh xuống và sau đó mới gài hòm sắn lên. Ðất xung quanh trại tù Bắc Thái là đất đồi đầy sỏi đá, một nhát cuốc bổ xuống, chạm phải một viên đá, cuốc bật nẩy lên, toàn thân ốm yếu của người tù rung động như bị điện giật, thân thể như tê dại. Người tù đi từ Hoàng Liên Sơn về Bắc Thái, sau bốn năm, đã bắt đầu trơ xương vì đói và làm việc quá sức. Chính vì chế độ hà khắc này, mà một số đội trưởng, thi đua, được thêm quyền lực hay họ nghĩ là được trao quyền lực.


Tôi đã đau lòng chứng kiến ít nhất là hai lần, một ở Bắc Thái và một ở Nghệ Tĩnh, một đội trưởng, cựu trung tá, đá vào bụng một người bạn đại úy phường trưởng, vì cho rằng anh này mang một giỏ khoai không đầy, trước sự chứng kiến im lặng, thỏa thuê của người quản giáo có mặt. Một đội trưởng, thiếu tá tiểu đoàn trưởng khác, đã đánh vào mặt một đồng đội, đồng cấp bậc ngày xưa của mình với lý do là anh này đã “cuốc dối” nghĩa là cuốc lát này lấp lên chỗ đất chưa cuốc. Chính người đội trưởng mẫn cán này cũng đã ra lệnh cho tôi hoàn thành những vồng khoai chưa xong, khi đã có lệnh “thu dụng cụ” (nghĩa là xong buổi lao động) trong khi cả đội đang tập họp chờ đi xuống suối tắm táp, vì làm chưa xong thì chưa được nghỉ! Mỉa mai thay, chính người vệ binh lại ra lệnh cho tôi: “Anh kia, nghỉ đi, vào tập họp!”


Chính vì cái ảo tưởng rồ dại làm tốt được về, mà ở trại tù Bắc Thái, một sĩ quan cao cấp BÐQ đã phải tự vẫn vì không chịu nổi cảnh áp bức, chì chiết của người đội trưởng. Dù họ có sám hối, ăn năn thì những vết dơ đó trong hàng ngũ của chúng ta cũng không bao giờ gột rửa được.


Trong cuốn hồi ký tù “cải tạo” Trại Ðá Bàn của Nguyễn Thanh Ty, tác giả đã kể lại câu chuyện có hai người tù trốn chạy, vệ binh chạy bắn theo nhưng vụng về không trúng. Một người tù, “bạn của chúng ta,” hiến kế, bèn la lên: “Quỳ xuống! Dùng thế bắn quỳ!” Kết quả là người tù chạy trốn bị bắn chết. Tôi không biết về sau, “người hiến kế” có được kẻ thù thưởng một lạng thịt tươi nào không, nhưng nếu anh còn chút lương tri của con người, hẳn những giọt máu của đồng đội này sẽ ám ảnh anh suốt đời.


Cũng như Bùi Ðình Thi ở trại tù Nam Hà, những cựu sĩ quan đã có tội hành hạ anh em chiến hữu trong những trại tù khắc nghiệt của cộng sản, cuối cùng cũng “lọt lưới” lên máy bay đến Mỹ tị nạn cùng với chúng ta.


Có một điều, chống kẻ thù trước mặt thì dễ, nhưng cảnh giác với bạn bè sau lưng khó hơn. Có khi họ chung một màu áo, một tổ chức, và thường là “đồng” như đồng bào, đồng hương, đồng chí... và có lẽ chúng ta cũng chưa quên bài học đồng minh.

Nhiều lúc vô tình, tôi gặp những anh “đội trưởng” đâm vào lưng chiến hữu mà tôi đã kể ở trên, ở một quán cà phê đông người nào đó ở trên đất Mỹ. Phần đông, hình như họ đã quên những gì họ đã làm hay họ giả vờ quên, nhưng với tôi thì không, tôi không bao giờ quên họ, mặc dù thường tôi vẫn bào chữa cho họ, cho rằng chẳng qua vì họ quá yếu đuối. Cả một quá khứ đau đớn hiện ra với tất cả tên tuổi và hình ảnh của những nạn nhân là những bạn tù của tôi. Có lẽ đó là một khuyết điểm của cá nhân tôi, nhưng ở đời, “tiết trực” thì dễ nhưng “tâm hư” mới là khó. Người ta nói nhiều điều có thể tha thứ, nhưng không thể quên.


Nếu quên được thì tôi đã không bao giờ có những giấc mơ thấy mình đang còn ở trong trại tù, như cơn ác mộng đêm qua.

 

 

23 tháng Hai, 2014

Huy Phương

Tuesday, July 14, 2026

"CHUYỆN VỚI THANH" VÀ THÔNG ĐIỆP MÀ ĐẢNG KHÔNG CẦN NÓI THÀNH LỜI

 

Vụ bắt giữ ông Nguyễn Thành Nam không đơn giản là chuyện của một người.
Nó là một thông điệp. Và thông điệp đó được gửi đến tất cả mọi người, không phải bằng lời tuyên bố công khai, mà bằng chính những gì xảy ra với một con người cụ thể, trong một buổi tối cụ thể, sau khi ông viết một cuốn sách cụ thể.
Hãy nhìn vào ông Nguyễn Thành Nam là ai.
Không phải nhà bất đồng chính kiến. Không phải người kêu gọi đa đảng hay lật đổ chế độ. Ông là đồng sáng lập FPT, người đã dành cả cuộc đời xây dựng doanh nghiệp, đào tạo thế hệ trẻ, đóng góp cụ thể và thực tế cho đất nước. Nhiều người còn mô tả ông là người yêu Đảng, yêu Bác theo nghĩa thật sự, không phải để lấy lòng ai.
Và ông Trần Việt Anh, giám đốc Spiderum, cũng vậy. Một người trẻ yêu tri thức, không mấy quan tâm đến chính trị hay thể chế, thuần túy xây dựng một không gian chia sẻ kiến thức.
Cả hai đều bị khởi tố theo Điều 117, tội danh thường được gắn với những người đứng lên thách thức chế độ một cách trực tiếp.
Vậy cuốn "Chuyện với Thanh" nói gì mà nguy hiểm đến vậy?
Theo những gì được biết, cuốn sách không phủ nhận lịch sử. Không phủ nhận vai trò của Hồ Chí Minh. Tác giả chỉ chọn một cách kể khác, đưa Nguyễn Tất Thành trở về hình ảnh một con người bằng xương bằng thịt, với những giới hạn của một cá nhân sống trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, thay vì là một biểu tượng hoàn mỹ không thể chạm đến.
Chỉ vậy thôi. Không kêu gọi gì. Không kích động gì. Chỉ là nhìn một nhân vật lịch sử như một con người.
Và điều đó đủ để đi tù.
Có một chi tiết rất đáng chú ý.
Công an và truyền thông nhà nước liên tục quy kết cuốn sách xuyên tạc lịch sử. Nhưng không ai công bố cụ thể đoạn nào xuyên tạc điều gì, theo tiêu chí nào, dựa trên căn cứ pháp lý gì.
Không phải vì họ không có bằng chứng. Mà vì nếu công bố cụ thể, người dân sẽ tự đọc, tự đánh giá, và tự đặt câu hỏi liệu những gì bị gọi là xuyên tạc có thực sự nguy hiểm như được mô tả hay không.
Sự mập mờ đó không phải là sự cẩu thả. Đó là công cụ. Khi ranh giới giữa được phép và không được phép không bao giờ được vạch rõ, thì mọi người đều có thể trở thành tội phạm bất cứ lúc nào, và không ai dám thử xem giới hạn đó nằm ở đâu.
Đây là thông điệp thật sự mà vụ việc này gửi đi.
Không phải là ông Nguyễn Thành Nam đã làm gì sai. Mà là bất kỳ ai, dù ủng hộ chế độ hay không, dù có ý định chính trị hay không, cũng có thể trở thành đối tượng của Điều 117 nếu cách họ kể một câu chuyện không vừa ý với những người đang nắm quyền quyết định điều gì được phép tồn tại.
Thông điệp đó không cần được phát thanh. Nó tự lan đi qua sự im lặng của VinUni, của Đại học FPT, của Tập đoàn FPT, những tổ chức gắn bó với ông Nam mà không ai dám nói một câu.
Sự im lặng đó là bằng chứng rõ ràng nhất rằng thông điệp đã đến nơi cần đến.
Tự do học thuật, tự do sáng tạo, quyền nhìn lịch sử bằng con mắt của mình.
Những thứ đó không bị cấm bằng một điều luật rõ ràng. Chúng bị thu hẹp dần từng ngày, bằng cách khiến người ta không biết đâu là ranh giới, bằng cách cho thấy rằng ngay cả người yêu Đảng cũng có thể bị bắt, bằng cách để những tổ chức lớn chọn im lặng thay vì lên tiếng bảo vệ người của mình.
Kết quả không phải là một xã hội bị cấm nói. Mà là một xã hội tự học cách không nói, không phải vì bị ra lệnh, mà vì đã hiểu rõ điều gì có thể xảy ra nếu nói sai chỗ.
Đối với Đảng, tư tưởng phải là tuyệt đối.
Không có không gian cho những cách kể khác, dù cách kể đó không phủ nhận mà chỉ là nhìn nhận con người theo đúng nghĩa con người.
Và khi một người yêu nước, yêu Đảng, viết một cuốn sách với thiện chí, vẫn có thể bị gọi là kẻ chống Nhà nước, thì câu hỏi không phải là ông ấy đã làm gì sai.
Câu hỏi là trong một hệ thống như vậy, còn ai có thể chắc chắn rằng mình đang làm đúng?
 

Wednesday, July 1, 2026

"NHỚ VỀ SÀI GÒN" CỦA MỌI NGƯỜI

 

Nguyễn Gia Việt
Ngày 2/7 là ngày Sài Gòn không còn là Sài Gòn nữa (2/7/1976 - 2/7/2023)
Một cái tên có mấy trăm năm lịch sử,rực rỡ văn hóa,sức sống và tâm tình bổng dưng một phút một giờ bị đổi tên ,nó nói lên điều gì?
Đó là sự thể hiện,khẳng định sức mạnh của chánh trị thuộc một ý thức hệ khác
Năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Đồng Nai lập thành huyện Phước Long, vùng Sài Gòn thành huyện Tân Bình ,ta coi là năm khai sanh ra Sài Gòn
Prei NoKor và Sài Gòn đã thành một đô thị an vui,no ấm,thạnh vượng của Nam Kỳ Lục Tỉnh,là đô thành của Lục Tỉnh
"Phủ Gia Định, phủ Gia Định, nhà đủ người no chốn chốn
Xứ Sài Gòn, xứ Sài Gòn, ở ăn vui thú nơi nơi
Lạc thổ nhóm bốn dân: sĩ nông công thương ngư tiều canh"
Sài Gòn anh dũng trong chiến cuộc với Tây Sơn,với người Pháp sau này ,thành Sài Gòn xây tám cửa thinh thang từng là Gia Định Kinh của chúa Nguyễn Ánh
Đô thành là thủ đô của một quốc gia, là nơi định đô,đặt cơ quan đầu não ,là trung tâm của chánh trị nước đó
Năm 1968 "đàn con nay lớn khôn mang gươm đao về xóm làng" làm một cú Mậu Thân khiến Sài Gòn biến dạng.Tuy nhiên Sài Gòn vẫn hiên ngang đứng dậy và mạnh mẽ hơn
"Khóc quê hương suốt hai mươi năm ngoài lửa khói
Cũng do một bàn tay anh mãi
Nếu xa lạ thì không ai nói
Ðếm đi anh !
Ðếm đi anh !
Bao hồn oan đó
Mộ chẳng sinh, cỏ chẳng xanh
Người nghìn sau nhắc chuyện đường thành"
Khi chiến tranh thắng lợi,thì phe mạnh sẽ bình định kinh đô của quốc gia thua
Sài Gòn-Gia Định bị đổi thành HCM vào ngày 2/7/1976
Lịch sử như mưa rơi,nước cuốn,song trong lòng người Miền Nam hai chữ Sài Gòn mãi mãi là đô thành,thiêng liêng,không bao giờ từ bỏ ước mơ về Sài Gòn,mộng về thành đô yêu thương!

CÓ NHỮNG ĐIỀU KHÓ QUÊN

  Huy Phương     Trong đời sống của chúng ta có những chuyện xảy ra đã lâu, từ vài ba mươi năm qua, những vẫn lẩn khuất đâu đó...