by Ha Huynh (黃應泉) Sept. 12, 2026.
Bức ảnh cũ này được chụp tại Sở thú Sài Gòn năm 1977 (cách đây gần nửa thế kỷ), đứa con trai cả của tôi lúc đó chỉ có 18 tháng lớn.
Gần nửa thế kỷ trôi qua, ký ức vẫn còn sống động.
Chỉ những người đã trải qua "nỗi đau nhập xương" mới thực sự hiểu được nỗi thống khổ của người cha mẹ có đứa con 18 tháng bị hắt húi trong tù ngục Việt cộng. Nỗi đau sót được bình phục chỉ khi nào nước mắt đã khô. Dù cho những người có 'máu lạnh ' (cold blood) thường hay xã muối vào vết thương, tôi cũng đã tê liệt và không còn cảm giác gì; những vết khâu từ lâu đã trở thành vết chai.
Đứa bé trong bức ảnh, với những dấu chân nhỏ xíu còn in lại ở sở thú, đã cùng chúng tôi trong nỗ lực vượt biển. Thật không may, vượt biển thất bại, và tất cả mọi người trên tàu đều bị bắt. Ngay cả đứa bé mười tám tháng tuổi cũng bị Việt Cộng giam giữ và được cấp số tù nhân. Sau khi được thả, đứa bé được chụp ảnh cùng với mẹ, rồi đính kèm vào ‘giấy chứng nhận thả tù’ của mẹ . Kỷ vật vô giá này đã được tôi mang theo trong ‘chuyến hành trình ra biển khơi’ lần thứ hai, nhưng nó đã bị cướp bởi hải tặc Thái Lan.
Trong khi đứa bé trong vòng tay ở bên mẹ, tôi bị giam trong buồng giam kế bên. Mỗi đêm vào lúc nửa khuye, tôi lại nghe thấy tiếng đứa bé trong buồng giam kế bên thức dậy khóc đòi nước uống, trong khi mẹ nó kiên nhẫn dỗ dành. Con trai tôi có thói quen cần một muổng trà mỗi đêm khi thức dậy giữa khuye. Trong buồng giam không có một giọt nước nào; nước chỉ được phát rạng sáng mỗi ngày. Đứa bé tội nghiệp khóc cho đến miệng và môi khô khốc; là cha của nó, trái tim tôi tan nát.
Trong cuốn tiểu sử xuất bản năm 2006 bằng tiếng nước ngoài, ‘Cuộc di cư từ Việt Nam’, tác giả Winston Hayden Chang Jr. kể lại những khó khăn mà vợ con tôi và tôi đã phải chịu đựng trong tù. Sử dụng tên giả, tôi là Henry, vợ tôi là Helen, và con trai tôi là Samuel.


No comments:
Post a Comment