Giáo Sư Phạm Cao Dương

19 tháng 8, 1945, Việt Minh Cướp Chính Quyền. Nguồn internet.
Dù trong nước mười phần chết chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với
một thành phần còn lại còn hơn với chín phần kia. Chúng tôi sẽ cướp
quyền để tỏ cho các nước đồng minh biết chúng tôi mạnh, chứ không chịu
cho ai nhường.
(Lời của Đại Diện Việt Minh Lê Trọng Nghĩa nói với Thủ Tướng Trần Trọng
Kim)
Tương lai còn dài, các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và lịch
sử.
(Trả lời của Thủ Tướng Trần Trọng Kim)
Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc
Việt Nam. Cuộc cách mạng oai hùng đó đã phá tan xiềng xích nô lệ của
thực dân Pháp, kéo dài hơn 80 năm, và của phát xít Nhật, đồng thời lật
nhào chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại ngót ngàn năm. Với thắng lợi của
Cách mạng tháng Tám, nước ta từ một nước thuộc địa đã trở thành một nước
độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hòa, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã
trở thành người dân độc lập, tự do làm chủ nước nhà.
(Nhà giáo nhân dân – GS Sử học Đinh Xuân Lâm. Phó Chủ tịch Hội Khoa Học
Lịch Sử Việt Nam, TS. Nguyễn Văn Khoan – HKHLS Việt Nam. Trích Lời Giới
Thiệu tác phẩm Cách Mạng Tháng Tám, Những Giờ Phút Lịch Sử)
Gọi là cách mạng trước hết là không chính xác… Sau 70 năm, nhìn lại
không thể gọi biến cố đó là Cách Mạng Tháng Tám. Gọi vậy là “ngoa ngôn”,
là “đại ngôn”,
… (Bùi Tín, Cựu Đại Tá Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, nguyên Phó Tổng Biên
Tập Nhật Báo Nhân Dân)
“Cách Mạng Tháng Tám hay Việt Minh Cướp Chính Quyền”, gọi thế nào cho
đúng? là câu hỏi liên hệ đến biến cố 19 tháng 8 năm 1945 và luôn khoảng
thời gian kéo dài cho đến hiện tại. Chúng phản ảnh sự khác biệt về quan
điểm giữa hai thành phần Quốc Gia và Cộng Sản và sau này giữa người Việt
ở trong nước và người Việt ở Hải Ngoại. Khác biệt này không những được
thấy rõ trong sinh hoạt chánh trị, truyền thông mà luôn cả trong chương
trình học và các sách giáo khoa nữa.
Ở miền Bắc thời trước năm 1975 và trên toàn thể Việt Nam sau năm 1975,
“19 Tháng Tám 1945 là ngày cách mạng hay ngày tổng khởi nghĩa, ngày kết
thúc hơn 80 năm thống trị của thực dân Pháp và hàng nghìn năm áp bức của
vua chúa phong kiến. Nó đã đưa nhân dân Việt-nam từ địa vị nô lệ lên địa
vị làm chủ nước nhà”. Đó là nhận định người ta có thể thấy trong các
sách xuất bản ở Hà Nội. Tuy nhiên bên cạnh các từ ngữ cách mạng hay tổng
khởi nghĩa, từ ngữ “cướp” cũng đã được dùng để chỉ biến cố này và dùng
không riêng trong ngôn ngữ nói mà luôn cả trong sách vở, báo chí và các
văn kiện chính trị “qua các bài viết của Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ
Nguyên Giáp… còn lưu giữ không sao kể hết”, luôn cả trong các văn kiện
chính thức của Đảng Cộng Sản. Hiệu Triệu Của Tổng Bộ Việt Minh ngày 14
tháng 8 năm 1945 là trường hợp điển hình. Tiếp theo là trong ngôn từ của
giới viết sử chính thức của Chính Quyền Miền Bắc qua hai tác giả Trần
Huy Liệu và Văn Tạo của Viện Sử Học Hà Nội. Cuối cùng là Lê Trọng Nghĩa,
một người trong cuộc, một nhân chứng có thẩm quyền, người đã đại diện
cho Việt Minh gặp Thủ Tướng Trần Trọng Kim, Khâm Sai Phan Kế Toại, Giáo
Sư Hoàng Xuân Hãn và Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ để giải quyết tình hình ít
ngày trước biến cố 19 tháng 8 năm 1945 ở Hà Nội. Trong hồi ký của mình,
đăng trên Tạp Chí Xưa & Nay, cơ quan của Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam,
số 5 (06), VIII, 1994, tr. 4-6 và số 6 (7), IX, 1994, tr. 9-1, Lê Trọng
Nghĩa đã nhiều lần dùng nhóm chữ “cướp chính quyền” để chỉ mục tiêu
chính yếu của Việt Minh trong biến cố quan trọng này.
Ở miền Nam và sau này ở các cộng đồng người Việt Hải Ngoại, đó là ngày
Việt Minh cướp chính quyền không hơn, không kém. Nó đã mở đầu cho những
ngày đen tối nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại. Nhiều người khác cũng
dùng nhóm chữ Cách Mạng Tháng Tám nhưng lại thêm năm chữ “Việt Minh
cướp chính quyền” đi kèm: “Cách Mạng Tháng Tám - Việt Minh Cướp Chính
Quyền”. Nhiều người thay vì chỉ ghi nhận một cách vắn tắt, lại đi sâu
hơn vào chi tiết và chứng minh là cả cách mạng lẫn cướp chính quyền của
Việt Minh và luôn cả bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945 của Hồ Chí
Minh đều không cần thiết nếu người ta chỉ nhìn tới nhu cầu độc lập của
dân tộc mà thôi. Đây là những nhận xét quan trọng mà người viết sẽ chú
trọng tới nhiều hơn trong bài này, đồng thời đối chiếu với những tài
liệu mới được phổ biến so với thời trước năm 1975.
I. Biến cố 19/8/1945 và bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh là không
cần thiết cho dân tộc Việt Nam
Lập luận này được dựa trên sự kiện là người Pháp đã bị người Nhật loại
khỏi chính trường Đông Dương từ sau cuộc đảo chính ngày 9/3/45 và Vua
Bảo Đại đã tuyên bố hủy bỏ các hòa ước đã được triều đình Huế ký kết vào
cuối thế kỷ XIX. Sau đó đến lượt người Nhật đầu hàng. Cả hai mục tiêu
đánh Tây, đuổi Nhật đều không còn nữa và Việt Nam đương nhiên đã trở
thành hoàn toàn độc lập.
Duy nhất còn lại ở thời điểm 19 tháng 8, 1945, là Vua Bảo Đại và Chính
Phủ Trần Trọng Kim như là những cơ chế hợp pháp hiện diện trên lãnh thổ
Việt Nam, trong khi Việt Minh và Đảng Cộng Sản chưa được bất cứ một thế
lực nào thừa nhận, nếu không nói chỉ là những nhóm phiến loạn, bất hợp
pháp có những hành vi khủng bố, tự ý cho mình quyền giết người, tịch
thu, cướp bóc bừa bãi của họ. Vua Bảo Đại và Chính Phủ Trần Trọng Kim,
do đó đã trở thành mục tiêu cuối cùng cần phải loại bỏ của hai tổ chức
này. Tại sao cần phải loại bỏ? Tại vì Vua Bảo Đại và Chính Phủ Trần
Trọng Kim đang ở vị thế cầm quyền và Đảng Cộng Sản theo lý thuyết của họ
phải là đảng cầm quyền và duy nhất cầm quyền với mục tiêu tối hậu của họ
không phải là để giành độc lập mà là để thiết lập chế độ chuyên chính vô
sản và từ đó xây dựng xã hội chủ nghĩa. Giành độc lập chỉ là bước đầu.
Người ta cũng có thể lấy cớ Chính Phủ Trần Trọng Kim là do người Nhật
lập ra, do đó thân Nhật và sẽ không được Đồng Minh chấp nhận, chưa kể có
thể bị trừng phạt. Điều này không đúng vì quân Đồng Minh kéo vào hay đổ
bộ lên Việt Nam ở thời điểm này chỉ là để giải giới Quân Đội Nhật chứ
không phải là để lùng bắt và xử những người bản xứ theo hay thân Nhật.
Lập luận có thể bị Đồng Minh trừng phạt này chỉ là để tuyên truyền, hù
dọa mọi người để mọi người tự nguyện rút lui và mở đường cho Việt Minh
cướp chính quyền mà thôi. Nên để ý là sau này khi Hoàng Đế Bảo Đại thoái
vị rồi, nhà vua đã được Hồ Chí Minh đưa ra Hà Nội làm Cố Vấn Tối Cao,
rồi đi đâu cũng đưa ông đi theo, để ngồi cạnh hay đứng bên mình như là
một biểu trưng để chứng minh sự kế thừa hợp pháp của Việt Minh và vai
trò chủ tịch của mình, kể cả để cho nhà vua thay thế ông đọc diễn văn
khai mạc Tuần Lễ Vàng nhằm lôi cuốn quần chúng nữa.
Một câu hỏi cần được đặt ra ở đây là Chính Phủ Trần Trọng Kim có bao giờ
tiếp xúc với Việt Minh và đề nghị họ tham chính không? Nếu có, những
người Cộng Sản đã trả lời những đề nghị này như thế nào và đã làm gì
trước khi họ cướp chính quyền? Để trả lời những câu hỏi này trước kia
người ta chỉ có những tài liệu của phía những người quốc gia, chính yếu
là tập hồi ký của chính Trần Trọng Kim, nhan đề Một Cơn Gió Bụi (Kiến
Văn Lục) mà thôi, nhưng hiện tại chúng ta có thêm hồi ký của nhân vật
đại diện của Mặt Trận Việt Minh, công cụ chính yếu của Đảng Cộng Sản, Lê
Trọng Nghĩa, người đã gặp Khâm Sai Phan Kế Toại, Thủ Tướng Trần Trọng
Kim, Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn và người cuối cùng đại diện cho chính phủ
Trần Trọng Kim ở Phủ Khâm Sai Hà Nội, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ, nếu chỉ kể
những tài liệu quan trọng nhất do những người trực tiếp liên hệ tới biến
cố quan trọng này để lại.
II. Năm lần tiếp xúc và mời Việt Minh hợp tác đều bị từ chối
Trước ngày 19 tháng 8, có ít nhất năm lần chính phủ Trần Trọng Kim đã
tiếp xúc với đại diện Việt Minh để mời hợp tác. Những chi tiết liên quan
tới các cuộc tiếp xúc này đã được những nhân vật chính trong các biến cố
này là Phan Kế Toại, Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn và Nguyễn Xuân Chữ
thuộc chính phủ của nhà vua đương thời và Lê Trọng Nghĩa, tự xưng là
giáo sư Lê Ngọc trong thời gian tiếp xúc, người đại diện cho Việt Minh
trong tất cả các buổi họp mặt kể lại trong hồi ký của các ông. Sau đây
là một số chi tiết được chính các đương sự ghi lại.
Trần Trọng Kim, như đã nói ở trên, từ trung tuần tháng 7 đến thượng tuần
tháng 8, đã ra Bắc với mục đích đòi trả lại các thành phố Hà Nội, Hải
Phòng, Đà Nẵng và xứ Nam Kỳ cùng các cơ sở mà người Nhật còn chiếm giữ
cho chính phủ Việt Nam, trong đó có việc bãi bỏ Phủ Toàn Quyền Đông
Dương, vốn có từ trước, từ thời Pháp thuộc, đồng thời đòi trả tự do cho
các thanh niên theo Việt Minh đi tuyên truyền bị Nhật bắt rất nhiều ở Hà
Nội. Phan Kế Toại là Khâm Sai Bắc Bộ lúc đầu, từ chức vào những giờ phút
chót và được thay thế một cách không chính thức bởi Bác Sĩ Nguyễn Xuân
Chữ, người được coi như chủ tịch của Ủy Ban Giám Đốc Chính Trị Miền Bắc.
Ủy ban này gồm có năm người, bốn người kia là Phan Kế Toại, Trần Văn Lai
(lúc đó là thị trưởng Hà Nội), Đặng Thái Mai, nhà giáo, và Nguyễn Tường
Long tức nhà văn Hoàng Đạo. Lê Trọng Nghĩa, người có lẽ là đảng viên
đảng Dân Chủ của hai ông Dương Đức Hiền và Vũ Đình Hòe, lúc đó đã trở
thành đảng viên Đảng Cộng Sản, mới vượt nhà pha Hỏa Lò ra và được Trung
Ương của Đảng Cộng Sản điều động về công tác Mặt Trận và được giao cho
phụ trách khối Dân Chủ trong Mặt Trận Việt Minh ở Hà Nội và một số thành
phố miền Bắc, trên lý thuyết dưới quyền Tổng Thư Ký Dương Đức Hiền nhưng
trên thực tế là dưới quyền của Lê Đức Thọ, người vừa thay mặt Trung Ương
Đảng Cộng Sản vừa thay mặt Tổng Bộ Việt Minh. Cả hai người này, Dương
Đức Hiền và Lê Đức Thọ, lúc đó đều đi họp ở Tân Trào nên không có mặt ở
Hà Nột trong thời gian tiếp xúc.
1. Cuộc họp lần thứ nhất
Cuộc họp này có tính cách sơ khởi và bí mật giữa Khâm Sai Phan Kế Toại
và đại diện Việt Minh Lê Trọng Nghĩa. Thời gian là vào một buổi sáng
không rõ ngày nào nhưng có lẽ vào cuối tháng bảy vì theo Lê Trọng Nghĩa,
nó chỉ cách buổi móc nối tiếp theo nhằm dẫn tới cuộc tiếp xúc của ông
với Thủ Tướng Trần Trọng Kim ít ngày sau đó. Địa điểm họp là Dinh Khâm
Sai, trong giờ làm việc. Trong buổi họp này đại diện Việt Minh Lê Trọng
Nghĩa đã trình bày chủ trương và hoạt động chống Nhật của bên mình, cục
diện chiến tranh, chuyện Hoa quân nhập Việt và đồng minh có thể đổ bộ.
Phan Kế Toại thì lắng nghe, hỏi và đề nghị tiếp tục giữ mối quan hệ,
liên lạc nhưng “chú ý giữ kín đáo”...Bốn chữ “chú ý giữ kín đáo” cho
phép người ta nghi rằng cuộc tiếp xúc này của Phan Kế Toại là của riêng
cá nhân ông.
2. Cuộc tiếp xúc lần thứ hai
Cuộc tiếp xúc này quan trọng hơn, nếu không nói là quan trọng nhất trong
cả năm lần tiếp xúc vì đó là do sáng kiến của chính Thủ Tướng Trần Trọng
Kim. Cả hai nhân vật chủ cốt trong trong cuộc gặp gỡ này, Thủ Tướng Trần
Trọng Kim và đại diện Việt Minh Lê Trọng Nghĩa, đều đã kể lại chi tiết
trong các hồi ký của mình. Thời gian gặp gỡ là đầu tháng 8, người móc
nối cho cuộc gặp gỡ là Phan Kế Toại và địa điểm là phòng khách của Phủ
Khâm Sai Bắc Bộ. Vì đây là một cuộc tiếp xúc quan trọng, nó phản ảnh
quan điểm của cả hai phía, có những chi tiết trùng hợp và những chi tiết
khác biệt, nên người viết thấy cần phải ghi lại đầy đủ theo lời của các
nhân chứng, kể cả lý do của cuộc tiếp xúc để người đọc có thể đối chiếu
và thấy rõ nội dung của cuộc trao đổi như thế nào.
Theo Trần Trọng Kim thì:
Đảng Việt Minh lúc ấy rất hoạt động, đánh huyện này, phá phủ kia, lính
Bảo An ở các nơi, phần nhiều bị Việt Minh tuyên truyền, tuy chưa theo
hẳn, nhưng không chống cự nữa. Nhân dân bấy giờ rất hoang mang, một
đường có chính phủ quốc gia, nhưng vì thời gian eo hẹp, chưa kịp sắp đặt
gì cả, công việc thấy có nhiều sự khốn khó mà thường nghe sự tuyên
truyền của Việt Minh nói họ đã có các nước đồng minh giúp đỡ cho nước
Việt Nam hoàn toàn độc lập. Dân ta từ khi bị người Pháp sang cai trị, cứ
khao khát độc lập, nay nghe Việt Minh nói như thế, ai nghe nói đảng Việt
Minh lên cầm quyền, dân không phải đóng thuế nữa, được hoàn toàn tự do
và có nhiều hạnh phúc, thành ra ai cũng tin theo. Ngay những đạo thanh
niên tiền tuyến do Bộ Thanh Niên lập ra, cũng có ý ngả về Việt Minh.
Tôi thấy tình thế ấy, tôi bảo ông Phan Kế Toại đi tìm một vài người Việt
Minh đến nói chuyện, vì lúc ấy tôi còn tưởng đảng Việt Minh dù theo chủ
nghĩa cộng sản, nhưng chắc cũng nghĩ đến tương lai nước nhà. Hôm sau ông
Toại đưa một thiếu niên Việt Minh đến, tôi nói “chúng tôi ra làm việc
chỉ vì nước mà thôi, chứ không có ý cầu danh lợi gì cả, tôi chắc đảng
của các ông cũng vì nước mà hành động. Nếu vậy chúng ta tuy đi con đường
khác nhau, nhưng cũng cùng một mục đích như nhau, các ông thử xem ta có
thể hợp tác với nhau, kẻ ở trong người ở ngoài để cứu nước được không?”
Người ấy nói:
- Sự hành động của chúng tôi đã có chủ nghĩa riêng và có chương trình
nhất định để đem nước đến chỗ hoàn toàn độc lập. Chúng tôi có thể làm
lấy được.
- Sự mưu cầu cho nước được độc lập cũng là mục đích của chúng tôi nhưng
vì đi đường thẳng có nhiều sự khó khăn, nên chúng tôi phải uyển khúc mà
đi từ từ có lẽ chắc chắn hơn.
- Chúng tôi chỉ có một con đường thẳng để đi đến hoàn toàn độc lập chứ
không có hai.
-Theo như ý của các ông như thế, tôi sợ rất hại cho dân, mà chưa chắc đã
thành công được.
- Chúng tôi chắc thế nào cũng thành công. Nếu có hại cũng không
cần, có hại rồi mới có lợi. Dù trong nước mười phần chết chín, chúng tôi
sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại còn hơn với chín phần
kia. (PCD đánh máy đậm)
Rồi người ấy đọc một bài hình như đã học thuộc lòng để kể những công
việc của đảng Việt Minh. Tôi thấy thái độ người ấy như thế tôi biết
không thể lấy nghĩa lý nói chuyện được.
Tôi nói:
- Nếu các ông chắc lấy được quyền độc lập cho nước nhà, các ông vào
chính phủ làm việc, cần gì phải đánh phá cho khổ dân?
- Chúng tôi sẽ cướp quyền để tỏ cho các nước đồng minh biết chúng tôi
mạnh, chứ không chịu cho ai nhường.
(PCD đánh máy đậm).
- Các ông chắc là các nước đồng minh tin ở sức mạnh của các ông không?
- Chắc lắm. Chắc trăm phần trăm.
- Tương lai còn dài, các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và
lịch sử.
Đại diện Việt Minh Lê Trọng Nghĩa cũng mở đầu hồi ký của ông bằng chuyến
ra Bắc của Thủ Tướng Trần Trọng Kim với những mục tiêu tương tự nhưng
thêm mục tiêu là để xem xét tình hình sau vụ Việt Minh đánh đồn Bần Yên
Nhân. Ông viết trong hồi ký của mình:
Ngay từ phút đầu, qua thái độ và vẻ mệt nhọc, hơi khô khan của ông Kim,
khi nghe ông Toại giới thiệu, tôi linh cảm thấy như cuộc gặp gỡ và cá
nhân tôi không được coi trọng đúng mức. Phải chăng vì mình quá trẻ và
lại chỉ đến đây có một mình, đã không có được những hình ảnh như ý ông
Thủ Tướng trông đợi.
Với ý thức là một cán bộ của Mặt Trận VM, tôi đàng hoàng trình bày ngắn
gọn chương trình hành động của Mặt trận, nêu lên cái ưu thế của VM là đã
cùng đứng về phía Đồng Minh chống lại phát xít Nhật ngay từ nhiều năm…
Ông nghe, tôi thấy cũng có vẻ chú ý nhưng không hỏi gì thêm. Rồi đến
lượt ông phác ra điều mà chính phủ ông chủ trương, đã và đang làm:
chương trình xây dựng một nước Việt Nam mới, chống thực dân và thống
nhất... Đoạn, không đi xa thêm như lúc đầu tôi tưởng, ông lại lạnh lùng
nói một cách trống không nhưng mà là để kết luận “Lịch sử sẽ phán xét
công việc của chúng tôi”. Những câu nói này đã gợi cho tôi nhớ ngay đến
quyển Việt Nam sử lược Trần Trọng Kim thời đi học.
So sánh các chi tiết được hai bên kể lại, người ta thấy phần quan trọng
nhất của buổi họp với những lời lẽ được trao đổi liên quan tới lập luận
của hai bên về đường lối đi tới hoàn toàn độc lập, những tai hại mà
người dân phải lãnh chịu, đặc biệt gợi ý của Trần Trọng Kim mời Việt
Minh vào chính phủ làm việc đã được Trần Trọng Kim tường thuật đầy đủ,
trong khi Lê Trọng Nghĩa thì hoàn toàn không nói tới. Trái lại, người
đại diện Việt Minh này lại khẳng định là Trần Trọng Kim đã không đề nghị
gì cả qua câu ông viết: “Đoạn, không đi xa thêm như lúc đầu tôi
tưởng, ông lại lạnh lùng nói một cách trống không nhưng là để kết luận:
“Lịch sử sẽ phán xét công việc của chúng tôi!” Giữa hai tường thuật
này, người viết nghĩ rằng Trần Trọng Kim đã nói thật và đầy đủ vì bản
chất của ông là một nhà giáo đã lớn tuổi, một sử gia, lại chịu ảnh hưởng
của Khổng Mạnh và phần nào Phật Giáo, với tư cách người có thẩm quyền
cao nhất, đồng thời ông viết hồi ký của mình vào lúc về già, chưa kể tới
sự mệt mỏi sau một chuyến đi dài và muốn rút lui của ông vào lúc hai bên
gặp nhau. Chính người đại diện cho Việt Minh cũng nhận thấy sự mệt mỏi
này của vị thủ tướng ngay lúc mới vào họp. Không những thế, mục tiêu
chính yếu của Trần Trọng Kim khi yêu cầu Phan Kế Toại móc nối và cho mời
đại diện Việt Minh vào gặp ông ở Dinh Khâm Sai trong chuyến ra Bắc với
rất nhiều việc phải làm trong lúc tình hình vô cùng cấp bách không thể
chỉ là để tìm hiểu suông. Cuối cùng là trong câu “Lịch sử sẽ phán xét
công việc của chúng tôi!” hai chữ “chúng tôi” hoàn toàn lạc
lõng không hợp với toàn thể mạch văn. Chúng phải là “các ông” như trong
câu của Trần Trọng Kim và cả phần đối thoại với những lời căn vặn được
lập đi, lập lại như Trần Trọng Kim thuật lại mới hợp lý.
Nếu ta tin rằng Trần Trọng Kim đã nhớ đầy đủ và đã tường trình trung
thực về cuộc gặp gỡ này thì câu hỏi tiếp theo sẽ là tại sao Lê Trọng
Nghĩa lại nói ngược lại: Trần Trọng Kim đã không đi xa hơn nữa? Ta có
thể có hai giải thích. Thứ nhất, Lê Trọng Nghĩa sống trong chế độ cộng
sản khi viết hồi ký này, do đó đã bị cấm hay không dám viết hết sự thực,
nhất là sự thực về bản chất luôn luôn tìm cách chiếm đoạt và sau đó là
giữ độc quyền lãnh đạo đất nước bằng mọi giá, mọi phương tiện kể cả
những phương tiện bất nhân tàn bạo nhất qua câu nói “mười phần chết
mất chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một phần còn lại, còn hơn
với chín phần kia”, một câu nói không một nhân vật nào dám nói trong
suốt lịch sử dân tộc kể cả vào những lúc nguy nan nhất. Một câu nói có
thể là do tuổi trẻ bồng bột nhưng cũng có thể ông đã được nghe trong khi
được các lãnh tụ Cộng Sản huấn luyện. Nên nhớ là theo Lê Trọng Nghĩa, Lê
Đức Thọ là cấp trên trực tiếp của ông, từ đó ông chỉ là kẻ thừa hành.
Giải thích thứ hai là Lê Trọng Nghĩa mang mặc cảm bị coi thường vì còn
quá trẻ trước một vị giáo sư già và nổi tiếng đương thời. Sự kiện còn
quá trẻ của người đại diện Việt Minh được cả hai bên ghi nhận. Trần
Trọng Kim gọi Lê Trọng Nghĩa là thiếu niên (ông Toại đưa một thiếu niên
đến), còn chính đương sự thì dùng chữ quá trẻ (Phải chăng vì mình quá
trẻ). Trần Trọng Kim chỉ kể như vậy thôi, không nói thêm gì về yếu tố
này mà chuyển ngay sang phần nội dung của cuộc trao đổi. Còn Lê Trọng
Nghĩa thì ngay từ lúc đầu đã cho biết là ông linh cảm thấy như cuộc gặp
gỡ và cá nhân ông không được coi trọng đúng mức. “Phải chăng vì mình
quá trẻ và lại đến đây có một mình, đã không có được những hình ảnh như
ý ông thủ tướng trông đợi..... Lúc ấy, tôi đã cảm thấy hơi nóng nóng
mặt”. Những chi tiết này cho phép ta đặt giả thuyết rằng phải chăng
ngay từ phút đầu tiên, người thiếu niên đại diện cho Mặt Trận Việt Minh
đã bị mặc cảm quá trẻ, bị coi thường, từ đó phần nào mất bình tĩnh,
không còn nghe rõ và nghe hết những gì người mà ông có dịp gặp gỡ đã đề
nghị hay vặn hỏi, để chỉ còn trả lời ngang bướng như đã được học và như
một thiếu niên còn nông nổi, ở tuổi trên dưới hai mươi mà thôi. Cuối
cùng với tâm trạng đầy bất mãn, bực tức và mặc cảm, ông đã kết luận rằng
“từ đó tôi cảm thấy không hào hứng và quan tâm nhiều lắm nữa đến mối
liên lạc với các lãnh đạo cao cấp chóp bu của chính quyền để dồn hết tâm
sức đẩy nhanh việc xây dựng lực lượng - mà tôi thấy rõ lúc đó còn
đuối (PCD đánh chữ đậm) - để chuẩn bị gấp cho cuộc võ trang khởi
nghĩa như chỉ thị của trung ương đã nêu và tình hình đang thôi thúc...”
và tất cả những gì ông nói với hay trả lời Trần Trọng Kim đều là dựa
theo cấp trên của ông hay xa hơn, chỉ thị của Trung Ương Đảng Cộng Sản
và những gì ông được học tập trước đó. Điều này cũng cho thấy là trong
thời gian này Lê Trọng Nghĩa hoạt động một mình; các người trực tiếp
lãnh đạo của ông như Lê Đức Thọ, Dương Đức Hiền đều đã đi họp ở Tân
Trào. Những người khác đứng sau lưng ông lúc đó cũng chưa nhận được chỉ
thị nào rõ rệt. Ta cũng nên để ý là trong phần trình bày hoạt động của
Việt Minh, Lê Trọng Nghĩa có “nêu lên cái ưu thế của VM là đã cùng đứng
về phía Đồng Minh chống lại phát xít Nhật ngay từ nhiều năm”… Đây là một
yếu tố quan trọng trong sách lược tuyên truyền của Việt Minh đương thời
được nhiều người nhắc tới và tin tưởng mà Lê Trọng Nghĩa đã học thuộc
lòng.
3. Cuộc tiếp xúc lần thứ ba: Việt Minh đòi Phan Kế Toại từ chức trao
chính quyền cho mình
Cuộc họp này xảy ra vào buổi sáng ngày 16 tháng 8 tại Dinh Khâm Sai và
cũng do Phan Kế Toại đứng ra móc nối. Người được tìm kiếm cũng là Giáo
Sư Lê Ngọc, bí danh của Lê Trọng Nghĩa. Về chi tiết của cuộc tiếp xúc
này, ta chỉ có bài hồi ký của ông này. Phan Kế Toại không để lại hồi ký
và luôn cả truyện kể cho người thứ ba. Viên chánh văn phòng và hai hay
ba cộng sự viên của ông cũng như các nhân vật mang tên Khang và Trần
Đình Long cũng vậy. Ông Khang lúc ấy đã chính thức trở thành Chủ Tịch Ủy
Ban Quân Sự Cách Mạng Hà Nội, còn Trần Đình Long là một thứ cố vấn mới
được xứ ủy Đảng Cộng Sản cử đến. Lần này có lẽ vì tình hình khẩn trương
hơn trước và vì tổ chức của Việt Minh và Đảng Cộng Sản ở Hà Nội đã rõ
ràng, kèm theo với các nhân sự với những chức vụ đứng đầu, đồng thời rút
kinh nghiệm lần trước, bên phía Việt Minh có tới ba đại diện, thay vì
một người. Nội dung của cuộc trao đổi cũng đã được Lê Trọng Nghĩa tường
thuật chi tiết và đầy đủ hơn có lẽ là vì sự có mặt của nhiều người nên
không còn sợ như trước. Nguyên văn lời kể như sau:
Hai bên đều nhấn mạnh đến tình hình khẩn cấp, lợi ích cao cả của đất
nước, vận mệnh dân tộc... Ông Khâm sai chính thức mời Mặt trận Việt Minh
cộng tác với Chính phủ cụ Trần và vui lòng chờ Mặt trận cử người tham
gia Chính phủ. Từ tốn, lịch sự, anh Khang đã thẳng thắn đáp lại là tốt
nhất ông Toại nên từ chức (PCD đánh chữ đậm), trao chính quyền lại cho
VM, chúng tôi đã đủ danh nghĩa và đã sẵn sàng. Anh còn đề xuất thêm việc
chuyển số vũ khí nghe nói Nhật sắp giao cho Phủ Khâm sai... để chống
thực dân đang lăm le đe dọa.
Phát biểu của đại diện Việt Minh cho ta thấy rõ chủ tâm từ đầu đến cuối
của họ trong thời gian này là phải cướp toàn bộ quyền hành thay vì chỉ
tham gia chính phủ đúng với chủ trương căn bản của họ: Đảng Cộng Sản
phải là đảng cầm quyền và duy nhất cầm quyền. Đồng thời họ cũng muốn có
thêm võ khí do người Nhật cung cấp để dùng vào các cuộc bạo động khi
cần. Người chủ động cho phía Việt Minh kỳ này không còn là Lê Trọng
Nghĩa mà là Nguyễn Khang.
4. Cuộc tiếp xúc lần thứ tư: Việt Minh nắm các vùng nông thôn để cho
Chính Phủ quản lý các thành phố lớn mà nói chuyện với Đồng Minh không
thì nguy cả
Cuộc tiếp xúc này xảy ra vào lúc 8 giờ sáng ngày 18 tháng 8, một ngày
trước khi xảy ra biến cố 19 tháng 8 và đại diện cho phía chính phủ là Bộ
Trưởng Giáo Dục và Mỹ Thuật Hoàng Xuân Hãn, một nhà giáo, đồng thời cũng
là một nhà nghiên cứu về lịch sử và văn hóa Việt Nam có uy tín, một học
giả lỗi lạc, bậc thày đáng kính (lời của Lê Trọng Nghĩa) nhất đương
thời. Vào lúc này tình thế đã không còn như trước nữa vì từ ngày hôm
trước, ngày 17, Việt Minh đã cướp ngang được cuộc biểu tình của Tổng Hội
Công Chức để mừng đất nước được hoàn toàn độc lập sau khi Nhật Bản đã
đầu hàng và để ủng hộ Nhà Vua và chính phủ Trần Trọng Kim. Chi tiết về
cuộc biểu tình và chuyện Việt Minh cướp máy vi âm để biến tất cả thành
của Việt Minh đều đã được các sách giáo khoa cũng như các sách khác ở
trong vùng Quốc Gia hay ở Miền Nam nói tới đầy đủ, còn các sách ở miền
Bắc trước kia và luôn cả hiện tại đã nói rất sơ lược hay không hề đả
động tới. Đồng thời Việt Minh cũng đột nhập vào tòa soạn báo Tin Mới,
dùng võ lực bắt ép báo này phải loan những tin tức có lợi cho họ. Khâm
Sai Phan Kế Toại thì đã bỏ nhiệm sở. Địa điểm của cuộc tiếp xúc lần này
là ngôi nhà số 101 đường Gambetta, nay là đường Trần Hưng Đạo, một biệt
thự của Nguyễn Bá Chính một công chức cao cấp, thân thuộc của Tổng Đốc
Hoàng Trọng Phu, từ lâu đã để cho Việt Minh sử dụng như trụ sở chính của
họ ngay tại Hà Nội. Lê Trọng Nghĩa, tác giả của hồi ký duy nhất có nói
về cuộc gặp gỡ này và cũng là người duy nhất đã tiếp chuyện Hoàng Xuân
Hãn vì hai thượng cấp của ông Nghĩa, người mang tên Khang (đúng hơn là
Nguyễn Khang) bận ở phòng bên cạnh (hay không muốn tiếp, hay thấy không
cần tiếp nữa) đã kể lại như sau:
Đúng hẹn 8 giờ sáng, ông Hãn một mình đến, được mời vào phòng giữa,
phòng khách của gia đình trước bố trí bộ xa lông gụ đen, nửa cổ nửa kim
mà ông chủ nhà tốt bụng còn để nguyên lại đó. Ông ăn mặc chỉnh tề (so
với chúng tôi quần dài, sơ mi vắn tay) trông vẻ hiền lành nhưng không
giấu được những cử chỉ hấp tấp của người đang xúc động. Tôi trịnh trọng
mời. Ông cũng không chờ thêm, tự giới thiệu ngay là người đại diện cao
cấp nhất của Thủ tướng Chính phủ tại Hà Nội lúc đó, đến để thông báo một
tin, đúng hơn là những tin thực hết sức bất ngờ:
Ông cho biết ông Khâm sai Phan Kế Toại ngay từ đêm 17 (!) đã từ bỏ nhiệm
vụ và rời nhiệm sở (Dinh Khâm sai). Chính phủ Nhà Vua hôm nay, 18, đã cử
bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Chủ tịch UB Chính trị kiêm nhiệm thay... Tôi
nghe mà giật mình. Ông lại chầm chậm tiếp, đại ý nói Việt Minh các ông
chắc đã kiểm soát được tất cả thôi. Nhưng chúng tôi biết chắc chắn có
tin quân đội Đồng minh đã bắt đầu lên đường chia nhau vào chiếm nam, bắc
vỹ tuyến 16 nước ta rồi. Ông ngừng lấy hơi rồi rồi như tự than: đất nước
đang có nguy cơ đe dọa lại bị xâm chiếm và chia cắt một lần nữa thôi!
Tôi như ù tai, nhưng cũng còn nghe ông nói: Chúng ta hãy tiếp tục thương
thảo, nói chuyện với nhau. Ông gợi ý luôn: Việt Minh các ông cứ nắm tất
cả các vùng nông thôn nhưng để cho Chính phủ quản lý một số thành phố
lớn, cốt để có danh nghĩa mà nói chuyện với Đồng Minh trong lúc này,
không thì nguy cả...
Lời tường thuật kể trên cho ta thấy trái với chủ trương duy nhất là cướp
chính quyền của Việt Minh, chủ trương của Hoàng Xuân Hãn, người đại diện
cho Chính Phủ Trần Trọng Kim, là làm tất cả những gì có thể làm được để
đối phó với tình hình nguy ngập ở thời điểm này bằng cách giữ chính phủ
hợp pháp để “có danh nghĩa mà nói chuyện với Đồng Minh” bảo vệ đất nước,
tránh “bị xâm chiếm và chia cắt một lần nữa”, “không thì nguy cả”.
5. Cuộc tiếp xúc lần thứ năm: chỉ là để do thám tình hình
Đây là cuộc tiếp xúc cuối cùng, trước khi xảy ra cuộc “cướp chính
quyền”, chữ Lê Trọng Nghĩa dùng trong hồi ký của ông. Cuộc tiếp xúc
này cũng xảy ra vào ngày 18 tháng 8, vào lúc 2 giờ chiều. Người đại diện
cho Chính Phủ là Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ, và đại diện cho Việt Minh vẫn
là Lê Trọng Nghĩa và địa điểm là Dinh Khâm Sai. Lần này sáng kiến đã đến
bất ngờ và từ phía Việt Minh, và nhằm do thám tình hình chứ không phải
là để đối thoại hợp tác.
Theo Lê Trọng Nghĩa, sau khi gặp Hoàng Xuân Hãn, Lê Trọng Nghĩa đã sang
phòng bên gặp thượng cấp của mình để tường trình thì …Ai đó lại lên
tiếng ngay: “Này, cậu phải nhanh chân nữa lên, vào ngay Dinh Khâm Sai
xem sao đi, khéo mà họ - tôi nắm bắt được ý là nói đến Đại Việt – nẫng
tay trên mất thì toi cả nút đấy! Cuộc gặp gỡ lần chót này được cả
hai phía là Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ và đại diện Việt Minh Lê Trọng Nghĩa
kể lại qua hồi ký của hai người. Điều cần biết là Bác Sĩ Chữ lúc này là
Chủ Tịch Ủy Ban Giám Đốc Chính Trị Miền Bắc. Xin được nhắc lại là Ủy Ban
này gồm có năm ủy viên là Phan Kế Toại, Trần Văn Lai, lúc đó là Thị
Trưởng Hà Nội, Đặng Thái Mai, Nguyễn Tường Long và Nguyễn Xuân Chữ.
Nhưng vào thời điểm này Phan Kế Toại đã từ bỏ nhiệm sở, Đặng Thái Mai
thì tản cư vào Thanh Hóa chưa về, Nguyễn Tường Long thì bị bịnh thương
hàn phải vào nằm bệnh viện, còn Trần Văn Lai thì bận việc bên Tòa Thị
Chính nên chỉ có một mình Bác Sĩ Chữ với vị thế không rõ ràng, “khâm
sai không ra khâm sai, chủ tịch không ra chủ tịch” như nhận định của
chính ông, đảm đương mọi chuyện, ra lệnh không ai thi hành. Về buổi họp
này, hai hồi ký đã kể lại khác nhau.
Theo Lê Trọng Nghĩa thì “Mười bốn giờ ngày 18, tôi một mình đạp xe
đạp tới Dinh Khâm Sai. Ông Chữ, ông Chương, ông Chánh văn phòng và một
số người nữa đã thấy tề tựu, có vẻ nôn nóng chờ.” Còn theo Bác Sĩ
Chữ thì “Tối thứ Bẩy, thanh niên Việt Minh, lần này đến có một người,
gặp lại mỗ y sĩ.” Tại sao lại có sự sai biệt về giờ giấc như vậy và
tại sao không hẹn trước khi đến mà khi Lê Trọng Nghĩa tới nơi thì toàn
bộ ban tham mưu của Bác Sĩ Chữ đã tề tựu và nôn nóng chờ? Riêng Bác Sĩ
Chữ đã dùng hai chữ “lần này” trong lời tường thuật của ông và trong
phần trước còn cho biết thêm là trước đó ông đã có dịp gặp người thanh
niên ở Phủ Khâm Sai do Phan Kế Toại mời cả hai bên tới. Nhưng dù được
tường thuật khác nhau, cuộc gặp gỡ lần cuối này cũng đã không mang lại
kết quả gì vì bên Việt Minh đã có mục tiêu tối hậu của họ, có đến chỉ là
để do thám tình hình và rất vội vã vì sợ “Đại Việt nẫng tay trên thì
toi cả nút”, còn một bên thì vừa mới lãnh trách nhiệm trong cùng
ngày, còn rất nhiều do dự, lại biết rõ kẻ địch là Cộng Sản và chỉ muốn
cướp chính quyền. Có họp cũng vô ích. Một chi tiết đáng chú ý do Bác Sĩ
Chữ ghi lại là trong cuộc gặp này thanh niên có hỏi ông là “ai đã ra
lệnh tăng cường phòng thủ Bắc Bộ Phủ?” Đây là một câu hỏi liên quan
tới một sự kiện sáng hôm sau mới xảy ra mà ngay tối hôm trước Lê Trọng
Nghĩa đã biết và vặn hỏi. Điều này chứng tỏ những gì xảy ra ở Bắc Bộ
Phủ, Việt Minh đều được mật báo cho biết trước, đồng thời phải chăng khi
đặt câu hỏi này, Lê Trọng Nghĩa đã ngầm đe dọa Bác Sĩ Chữ?
Nói tóm lại, trong năm lần gặp gỡ kể trên, ngoại trừ cuộc gặp gỡ lần thứ
năm, bốn lần đầu, lần nào phía chính phủ cũng đưa ra những đề nghị mời
Việt Minh vào chính phủ làm việc để cứu nước nhưng tất cả đều bị từ
chối. Lý do là Việt Minh, với Đảng Cộng Sản đứng đằng sau, đã chủ trương
cướp chính quyền để từ đó một mình lãnh đạo đất nước để thực hiện cuộc
cách mạng riêng của mình, bất chấp mọi nguy hiểm có thể xảy ra cho dân
tộc, phản ảnh qua những câu trả lời của người đại diện Việt Minh cho
những câu hỏi do chính Thủ Tướng Trần Trọng Kim đặt ra và kể lại. Biến
cố 19 tháng 8 do đó đã xảy ra và làm lỡ dở cuộc cách mạng phi bạo lực
hướng tới độc lập, thống nhất, tự do và dân chủ từ trên xuống của giới
sĩ phu tân học đương thời.
III. Cách Mạng hay Cướp Chính Quyền - Chữ cướp do ai đặt ra?
Việt Nam ta nổi lên
Đạp phăng quân giặc Pháp!
Phá tan lũ cường quyền
Cướp
lấy chính quyền!
Một hai ta đi một hai...
Lời một bài hát phổ thông thời năm 1945
Sau 70 năm, nhìn lại không thể gọi biến cố đó là Cách mạng tháng Tám.
Gọi vậy là “ngoa ngôn”, là “đại ngôn”, vì “cách mạng” là phải thay đổi
hẳn chế độ cai trị, đổi mới hoàn toàn bản chất chế độ, đem lại dân chủ,
tự do cho mọi công dân, quyền tự do bình đẳng trong kinh doanh, cốt lõi
là tự do ngôn luận, tự do báo chí. (Bùi
Tín, Cựu Đại Tá Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, nguyên Phó Tổng Biên Tập
Nhật Báo Nhân Dân.)
Từ ngữ cách mạng trong lịch sử Việt Nam hiện đại là một từ ngữ mới,
nhưng là một từ ngữ đẹp. Nó liên hệ chặt chẽ với cuộc đấu tranh giành
độc lập của dân tộc, sự hy sinh và lòng ái quốc chung của hầu hết mọi
người Việt Nam. Điển hình là trường hợp của Nguyễn Thái Học và Việt Nam
Quốc Dân Đảng mà chính những người Cộng Sản cũng phải công nhận. Cách
Mạng là đánh đuổi người Pháp, giành độc lập cho Việt Nam dù phải hy
sinh, kể cả hy sinh hạnh phúc của gia đình mình và luôn cả mạng sống của
chính mình. Chính vì vậy có một thời tham gia hoạt động chống Pháp nói
chung hay tham gia các phong trào giành độc lập cho đất nước đã được
người ta gọi chung là tham gia cách mạng, là làm cách mạng dù là thuộc
khuynh hướng nào. Cướp, trái lại, là một từ ngữ xấu, là dùng bạo lực,
thường là bất hợp pháp và công khai hay bằng mưu mô, lừa lọc trước đó để
giật từ tay người khác cái gì không phải là của mình, đặc biệt là vào
những lúc tình hình hỗn loạn, an ninh không được bảo đảm. Hai từ ngữ
hoàn toàn không giống nhau nếu không nói là trái ngược nhau đứng trên
quan niệm giá trị đạo đức. Điều nghịch lý ở đây là chữ cướp đã được
chính Việt Minh, những người tạo ra biến cố 19 tháng 8 năm 1945 dùng để
chỉ việc làm của mình. Bằng chứng là ngay từ trước ngày 19 tháng 8, khi
Mặt Trận này, qua những bài hát hay những khẩu hiệu, tuyên truyền thúc
đẩy người dân nổi lên chống lại chính quyền đương thời, chính quyền Bảo
Đại-Trần Trọng Kim, chữ cướp đã được dùng để diễn tả mục tiêu của các
cuộc nổi dậy của mình. Điển hình trong số những bài hát rất phổ thông ở
thời này là bài Một Hai Ta Đi Một Hai với nguyên văn sau sáu, bảy chục
năm nhiều người vẫn còn nhớ:
Một, hai ta đi một hai...
Tiền xưa đã tranh đấu
Còn nhiều con đường máu
Ta xá chi chông gai!
Việt Nam ta nổi lên
Đạp phăng quân giặc Pháp!
Phá tan lũ cường quyền
Cướp
lấy chính quyền!
Một hai ta đi một hai...
Tuy nhiên đó chỉ là một bài hát phổ thông. Trên tờ Việt Nam Độc Lập cơ
quan chính thức của Mặt Trận Việt Minh, Tỉnh Bộ Cao Bằng lúc đầu do
chính “đồng chí” Nguyễn Ái Quốc sáng lập và chăm sóc những ngày đầu,
trong số 226, đề ngày 20-8-1945 có đăng một bài thơ với nhan đề “Cướp
Ngay Chính Quyền” với nguyên văn như sau:
“CƯỚP
NGAY CHÍNH QUYỀN”
Chính phủ phát xít Nhật hoàng,
Đã vô điều kiện đầu hàng đồng minh.
Thế là kết thúc chiến tranh,
Á châu sẽ lại thái bình từ nay!
Hỡi dân Nam Việt ta đây,
Trong tình thế ấy làm ngay việc cần:
Việt Minh hiệu triệu toàn dân,
Lập ngay chính phủ nhân dân của mình….
Sau này, có lẽ vì thấy chữ “cướp” không được đẹp cho biến cố vô cùng
quan trọng trong lịch sử của đảng mình, người Cộng Sản đã thay thế bằng
chữ “giành” nhưng ý nghĩa của cả hai chữ trong trường hợp này vẫn là
một.
Về phía người Việt không Cộng Sản, việc sử dụng những từ ngữ này thoạt
tiên là do những người đương thời có dịp tham gia hay chứng kiến biến cố
19/8/1945 lúc khởi đầu. Họ có thể là những người chống đối ngay từ trước
nhưng cũng có thể là những người đã vì lý do này hay lý do khác theo và
ủng hộ Việt Minh trong buổi đầu rồi sau đó chuyển hướng, chưa kể tới đa
số quần chúng nông nổi, bị hướng dẫn sai lạc và luôn cả hiếu kỳ. Điều
cần được ghi nhớ là những người Cộng Sản trong thời gian trước biến cố
này đã quyết tâm và dùng đủ mọi thủ đoạn để lôi cuốn quần chúng theo
mình trong đó có tuyên truyền, dối trá, dọa dẫm xuyên qua những đội võ
trang tuyên truyền của họ. Sự kiện này đã được Trần Trọng Kim và Nguyễn
Xuân Chữ nói rõ trong các hồi ký của các ông. Riêng Nguyễn Tường Bách,
một lãnh tụ Đại Việt Dân Chính đương thời đã kể lại kinh nghiệm cá nhân
của ông khi ông cùng với nhà văn Khái Hưng đến gặp Dương Đức Hiền, lãnh
đạo Đảng Dân Chủ, lúc đó đã gia nhập Việt Minh. “Nếu các anh cứ lừng
khừng như thế mãi, thì có ngày Nhật sẽ beng đầu các anh, mà nếu
không thì cách mạng sẽ beng đầu các anh!” (PCD đánh chữ đậm)
là câu nói nguyên văn của Dương Đức Hiền với Nguyễn Tường Bách và Khái
Hưng nhằm thuyết phục hai người này phải dứt khoát gia nhập Việt Minh.
Tất nhiên là hai người không sợ vì đã có lập trường từ trước, nhưng với
những người khác thì sợ, nhất là những người có dính dáng với chính
quyền Pháp và quân đội Nhật trước kia và trong thời đó, đúng như phân
tích của Nguyễn Xuân Chữ về thành phần của những người theo Việt Minh
trong hồi ký của ông. Không sợ sao được khi mình có quá khứ thân hay đã
cộng tác với Pháp hay Nhật, khi báo chí bí mật không ngớt nhấn mạnh đến
tinh thần triệt để cách mạng và phải thẳng tay trừng trị bọn “bù nhìn
tay sai bán nước” một cách có phân biệt, luôn cả sự trừng phạt của
Đồng Minh. Công tác trừ gian, trừng trị một cách đích đáng, chính xác có
chọn lọc “một số tên đầu sỏ” như “trùm mật thám ác ôn” (Phán Sinh, Võ
Văn Cầm, Nga Thiên Hương, Đỗ Đức Phin...) đang được đầu óc giầu tưởng
tượng của quần chúng thổi phồng lên như những câu chuyện thần thoại.
Bằng chứng cụ thể là một truyền đơn ký tên Đội Danh Dự Việt Minh nguyên
văn được in trong Tổng Khởi Nghĩa Tháng Tám, Tài Liệu Tham Khảo Lịch Sử
Cách Mạng Cận Đại Việt Nam do Trần Huy Liệu và Văn Tạo biên soạn như
sau:
Việt - minh là một đoàn thể cách mạng chân chính yêu nước, đang hô hào
dân chúng chống nộp thóc, nộp thuế đi lính, đi phu cho giặc Nhật, đang
sửa soạn tổng khởi nghĩa đánh đuổi giặc Nhật, lấy lại nước Việt Nam mưu
sung sướng cho nhân dân.
Ai vào Việt-minh hoặc ủng hộ Việt-minh là người có công yêu nước, đáng
được hoan nghênh.
Ai đã hại Việt-minh hay đang mưu hại Việt–minh là có tội với nước,
đáng xử tử.
[…] Những kẻ đáng bị xử tử như lý trưởng Phách làng Bần-yên-nhân
tỉnh Hưng-yên, phó lý Khám làng Vĩnh-lạc, phủ Mỹ Đức tỉnh Hà-đông ức
hiếp bóc lột nhân dân, tâng công hãm hại cách mạng, đều đã bị đội danh
dự Việt–minh bắn chết. Những tên mật thám thực thụ của Nhật như Nguyễn
Thiện Giám (Sơn - tây), Ngô Xuân Điều (Hải - phòng), Hoàng Sĩ Nhu và Cai
Long (Hà-nội), v.v… cũng đều đã chết không kịp ngáp dưới mũi súng
Việt–minh. (PCD đánh đậm)
Giặc Nhật sắp chết rồi!
Bạn của Nhật là Đức, Ý đã ngã quỵ, Nhật đang thua liểng xiểng ở
Diến-điện, Thái -bình-dương và chính đất Nhật. Việt-minh quyết cùng các
bạn Đồng-minh Anh, Mỹ, Trung-hoa, tống cổ Nhật ra khỏi xứ Đông-dương nay
mai. Việt-minh quyết lấy lại nền độc lập của dân tộc Việt-nam.
Giặc Nhật chết, bọn tay sai của Nhật tất phải rụng đầu.
Kẻ nào tin Nhật thắng trận cuối cùng là kẻ ngu dân bị nhồi sọ, kẻ nào
tin chính phủ Trần Trọng Kim không phản nước hại dân và sẽ đứng vững là
những kẻ khờ khạo bị lừa bịp, kẻ nào nghe theo bọn Tân Việt Nam Quốc dân
đảng, Đại Việt quốc gia liên minh, Thanh niên ái quốc hội, v.v…là những
kẻ tự lao mình xuống hố.
Đội danh dự Việt-minh nhắc cho những kẻ đó mau mau tỉnh ngộ quay về
đường đại nghĩa “Kháng Nhật cứu nước” cho xứng đáng là dân tộc Việt-nam.
Đội danh dự Việt-minh cũng cảnh cáo cho những kẻ nào đang manh tâm hại
Việt-minh, hại dân hại nước phải mau mau, đổi lại ý nghĩ và hành động
mới mong bảo đảm được tính mệnh.
Đội trinh thám Việt-minh luôn luôn để tai mắt vào việc làm của những bọn
đó.
Ai muốn có công với nước? Ai muốn có tội với nước?
Công được hoan nghênh!
Tội phải xử tử!
ĐỘI DANH DỰ VIỆT-MINH
Các đội tuyên truyền võ trang do Võ Nguyên Giáp chỉ huy được thành lập
chắc chắn cũng để làm những công tác này chứ không phải chỉ là để đánh
mấy đồn Nhật. Một trong số những người đã tham gia các đội danh dự này
là Nhạc Sĩ Văn Cao. Người ta khó mà hiểu được trường hợp hoàn toàn
nghịch lý trong con người của Văn Cao khi đối chiếu những bài hát mang
đầy mầu sắc hoài cổ, vô cùng đẹp đẽ và lãng mạn, ở trình độ cao, ông làm
trước đó với thái độ của ông khi ông chờ đợi lãnh khẩu súng và tham gia
đội vũ trang: “Hôm nay phố đông người hơn và tôi thấy lòng vui hơn.
Tôi đang chờ nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang”.
Không chỉ dùng thủ đoạn với người khác, các người chủ động còn dùng thủ
đoạn với chính đồng bạn của mình. Lê Trọng Nghĩa khi kể lại hoạt động
của ông trong ngày 19/8 đã cho biết ông luôn luôn dẫn đầu, còn những
nhân vật lãnh đạo của ông mang tên Khang (tức Nguyễn Khang, Xứ Ủy), tên
Bình (Trần Tử Bình, cố vấn) thay vì đi trước ông, đã đi theo sau ông cả
chục mét cho đến khi tình hình đã rõ rệt, Bác Sĩ Chữ ra, hạ lệnh cho Bảo
An mở cổng, mọi người ùa vào, mới “từ dưới vọt lên”. Để làm gi? Ai cũng
có thể đoán được, y hệt sự kiện xua đàn bà, trẻ con đi trước trong các
cuộc biểu tình chống chính quyền ở miền Nam sau này mà báo chí hay nhiều
người đã thuật lại.
Câu hỏi tiếp theo là, ngoài chuyện cướp của ai, khi nói tới “cướp”,
người ta phải hiểu thêm là cướp cho ai? Lê Trọng Nghĩa, cũng trong hồi
ký của ông, đã nói rõ “cướp chính quyền về tay mình” và để sáu
chữ này vào trong ngoặc kép. Để trong ngoặc kép có nghĩa là đó không
phải những chữ ông dùng mà là của người khác, rõ hơn là của cấp trên
trong đảng Cộng Sản của ông mà ông đã theo lệnh. Chưa đủ, ông còn giải
thích trong ngoặc đơn: (lúc đó có nghĩa là, như là ở một vài nơi đã
làm: chiếm cơ quan, huyện, phủ đường và bắt giữ những người đương chức
cầm đầu chống đối…) và hai chữ “cho mình” ở đây người ta phải
hiểu là cho Việt Minh, cho Đảng Cộng Sản, ở thời điểm cuối tháng 8 đầu
tháng 9 năm 1945.
Danh từ cách mạng còn được hiểu là thay thế cái cũ tệ hại bằng một cái
mới tốt hơn, trong chính trị là thay một chế độ với những nhân vật tồi
tệ, bất nhân bằng một chế độ tốt hơn, với những nhân vật tốt hơn, có khả
năng hơn, hợp thời thế hơn và đạo đức hơn, đặc biệt là trong một xã hội
chịu ảnh hưởng của học thuyết Khổng Mạnh với phần nào của quan niệm về
Thiên Mạng của nhà vua nhằm thay thế một hôn quân, bạo chúa. Áp dụng
nhận định này vào biến cố 19 tháng 8, bình thường người ta phải suy luận
là chính phủ Trần Trọng Kim phải là một chính phủ ác ôn, tệ hại, là Việt
gian, bù nhìn, tay sai, thân Pháp, thân Nhật. Điều này như người viết đã
trình bày ở trên là hoàn toàn không đúng. Ngoài những lý do đã được nêu,
ngay chính người đại diện Việt Minh, Lê Trọng Nghĩa, cũng phải công nhận
là chính phủ này “vẫn còn có sức thu hút” trong những ngày cuối của nó,
khi ông nói tới một buổi họp đầy xúc động của nhiều nhân vật thuộc nhóm
Thanh Nghị, có lẽ là buổi họp cuối cùng để chia tay, trong đó chỉ có Vũ
Đình Hòe và Đỗ Đức Dục dứt khoát ra chiến khu với Việt Minh. Những người
khác đều ở lại. Nguyên văn lời kể của Lê Trọng Nghĩa như sau:
Các anh Vũ Đình Hoè, Đỗ Đức Dục dứt khoát ra chiến khu với Việt Minh.
Còn một số các vị, lớp trí thức đàn anh, có người nghỉ, có người lại lên
đường trở về với Chính phủ Huế (lúc này là Chính phủ do Trần Trọng Kim
làm thủ tướng), nhưng lòng đầy trăn trở.
Nghe anh kể, tôi cảm nhận được là lúc này đương diễn ra một sự kiện khá
quan trọng. Nhóm Thanh Nghị vốn là một nhóm trí thức nhân sĩ có tiếng,
có uy tín và được nhiều giới mến phục ở thủ đô, cũng như ở miền Bắc và
miền Trung, nổi lên trong và sau thời kỳ Nhật - Pháp cấu kết với nhau,
khủng bố dữ dội phong trào dân chủ yêu nước những năm 42, 43… Trong
Thanh Nghị có các nhà trí thức được coi vào lớp đàn anh như ông luật sư
Phan Anh hùng biện và các vị trong nhóm “Trois H” (như anh em sinh viên
thường gọi): Hoàng Xuân Hãn, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Văn Huyên.
Nhưng qua đó tôi lại thấy được rằng Chính phủ của nhà học giả Trần Trọng
Kim, đang bị khủng hoảng nghiêm trọng, nhưng vẫn còn có sức thu hút và
đang được người Nhật hỗ trợ nhằm tập hợp lực lượng để vươn lên trong
tình hình mới.
Nhóm Thanh Nghị và rộng ra là Hội Tân Việt Nam ở thời điểm này, một hội
được thành lập theo Dụ số 7 của Vua Bảo Đại, đã thu hút được rất đông
trí thức tên tuổi đương thời. Hội đã dùng tờ Thanh Nghị làm cơ quan ngôn
luận để phổ biến tư tưởng trong giới trí thức, thanh niên, sinh viên.
Các nhân vật tham gia vận động thành lập buổi đầu gồm có các trí thức
nổi tiếng đương thời như các ông Đào Duy Anh, Phan Anh, Phạm Đỗ Bình
(tức Nhật Trương), Đỗ Đức Dục, Ngô Thúc Địch, Trần Khánh Giư (tức Khái
Hưng), Ngô Tử Hạ, Vũ Văn Hiền, Vũ Đình Hòe,, Nguyễn Văn Huyên, Trần Duy
Hưng, Ngụy Như Kontum, Nguyễn Lân, Vũ Đình Liên, Phạm Lợi, Nguyễn Ngọc
Minh, Nguyễn Quang Oánh, Tôn Quang Phiệt, Phạm Khắc Quảng, Phan Huy
Quát, Ngô Bích San, Nguyễn Hữu Tảo, Hoàng Thúc Tấn, Nguyễn Đình Thụ,
Hoàng Phạm Trân (tức Nhượng Tống), Bùi Như Uyên, Lê Huy Vân, Nguyễn
Xiển, Nghiêm Xuân Yêm, và do Vũ Đình Hòe làm tổng thư ký. Cả một nhóm
đông như vậy mà chỉ có hai người quyết định ra chiến khu theo Việt Minh
chứng tỏ đa số đã đứng về phía chính phủ, ít ra là cho đến thời điểm
này, đặc biệt nếu ta để ý tới chủ trương của hội này như giữ vững nền
độc lập và thống nhất quốc gia Việt Nam trong phạm vi Đại Đông Á, đoàn
kết hết thảy các giới trong xã hội và các khuynh hướng chính trị...,
những chủ trương phù hợp với chủ trương của Chính Phủ của Thủ Tướng Trần
Trọng Kim và của Hoàng Đế Bảo Đại. Hai chữ “cách mạng” trong
trường hợp này do đó cần phải được xét lại, ít nhất là bởi các sử gia,
những người có trách nhiệm tìm sự thực của quá khứ, nhất là sự thực liên
hệ tới Trần Trọng Kim và Hoàng Xuân Hãn, hai nhà nghiên cứu sử học tiền
phong của thời hiện đại, đồng thời cũng là hai nhà giáo dục lớn, những
người đã đặt những viên đá đầu tiên cho nền giáo dục bằng tiếng Việt Nam
của một nước Việt Nam độc lập.
Ngày 19/8 mở đầu cho một khúc quanh đầy nguy hiểm và nhiều ngã rẽ trong
lịch sử Việt Nam và đám đông người Việt vì quá bồng bột, kém cỏi, vừa
quá nóng lòng, quá tha thiết với nền độc lập của dân tộc mình, lại chưa
có đủ những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết để lựa chọn trong khi
thời gian không cho phép. Ngày 2/9 do đó là một hậu quả tất nhiên của
ngày 19/8. Nó chấm dứt một giai đoạn ngắn và mở đầu cho một giai đoạn
khác dài hơn, nhiều biến cố hơn, nhiều bi thảm hơn và nhiều oan khuất
hơn, kéo dài ít ra là cho đến tận khi những dòng chữ này được viết.
Người viết sẽ viết thêm trong những bài kế tiếp.
Cuối cùng ta cũng nên để ý tới hai nhận định về biến cố 19 tháng 8 này
của chính những người đã từng đóng vai trò quan trọng trong chế độ Cộng
Sản, Người thứ nhất là Trường Chinh, nguyên Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản
Đông Dương, lý thuyết gia chính trong buổi đầu của đảng này, trong tác
phẩm Cách Mạng Dân Tộc, Dân Chủ Nhân Dân Việt-Nam, Tác Phẩm Chọn Lọc,
Tập I, xuất bản năm 1975 tại Hà Nội. Người thứ hai là Cựu Đại Tá
Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Bùi Tín, nguyên Phó Tổng Biên Tập của tờ
Nhân Dân kiêm Tổng Biên Tập của tờ Nhân Dân Chủ Nhật, qua bài
ông viết, nhan đề “Cướp” đăng trên trang mạng của Đài Tiếng Nói
Hoa Kỳ, VOA, ra ngày 27 tháng 8 năm 2015.
Trong tác phẩm của mình, Trường Chinh viết:
Tháng Tám năm 1945, bị Quân đội xô-viết đánh bại, phát xít Nhật đầu hàng
không điều kiện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông-dương đứng đầu
là Chủ tịch Hồ-Chí-Minh, Mặt trận Việt-minh cùng toàn thể nhân dân
Việt-nam tổng khởi nghĩa, lật đổ ách thống trị của phát xít Nhật, thiết
lập chính quyền nhân dân trong toàn quốc.
Đoạn văn ngắn ngủi, vỏn vẹn có hai câu, nhưng chứa đựng những sai lầm
căn bản về lịch sử do tác giả vì không biết hay cố tình bóp méo sự thật
nhằm hướng dẫn sai lạc người đọc. Có hai sự kiện:
Thứ nhất: Nhật Bản không đầu hàng vì bị “Quân đội xô-viết đánh bại”
mà vì bị Hoa Kỳ phản công và đẩy lui trên khắp các mặt trận ở Thái Bình
Dương và Đông Nam Á và cuối cùng vì hai quả bom nguyên tử được bỏ xuống
Hiroshima và Nagazaki. Điều này ai cũng biết.
Thứ hai: Cuộc biểu tình ngày 17 tháng 8 năm 1945 không phải do Mặt Trận
Việt Minh tổ chức mà là của Tổng Hội Công Chức nhằm ủng hộ Chính Phủ
Trần Trọng Kim vào lúc Nhật Bản đã đầu hàng.
Việt Minh chỉ lợi dụng sự sơ hở của ban tổ chức để làm có một việc là
cướp ngang cuộc biểu tình này rồi sau đó mới cướp chính quyền mà thôi.
Điều quan trọng ở đây là biến cố Nhật Bản đầu hàng đã xảy ra quá nhanh
chóng và bất ngờ đối với Đảng Cộng Sản Đông Dương và Mặt Trận Việt Minh
vào lúc tất cả các nhà lãnh đạo cao cấp nhất của đảng này đều đang họp
Đại Hội Tân Trào. Họ đã không biết gì rõ ràng về những biến chuyển đang
đồng thời xảy ra ở Hà Nội và ở các địa phương khác. Tất cả những gì xảy
ra ở thủ đô miền Bắc này đều do một nhóm nhỏ ở địa phương gồm có Nguyễn
Khang và Trần Tử Bình, đại diện Xứ Ủy Bắc Kỳ. Những người này đã phải tự
mình quyết định, từ việc thành lập Ủy Ban Khởi Nghĩa Hà Nội với 5 ủy
viên gồm Nguyễn Khang chủ tịch, Nguyễn Huy Khôi (Trần Quang Huy), Nguyễn
Duy Thân Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Quyết, với Trần Đình Long làm cố vấn
(chiều ngày 15), đến cách thức đối phó với cuộc biểu tình ngày 17 tháng
8 của Tổng Hội Công Chức, việc lựa chọn ngày 19 tháng 8 cùng các chi
tiết của ngày cướp chính quyền này. Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trường
Chinh… chỉ về đến Hà Nội ngày 29 tháng 8, mười ngày sau đó, sau khi đã “thẩm
tra chắc chắn” tin “Hà Nội khởi nghĩa thành công”. Nhóm đảng
viên địa phương này cũng bị ngạc nhiên không kém. Họ cũng không ngờ sự
ủng hộ quần chúng dành cho Chính Phủ Trần Trọng Kim lại “lên cao quá
sức tưởng tượng” đến độ “các anh linh cảm thấy tình huống có thể
trở thành cực kỳ nghiêm trọng” và phải đổi thái độ từ “phá cuộc
biểu tình” sang “đồng ý để tổ chức” nhưng phải “biến cuộc
mít tinh thành cuộc biểu tình của quần chúng cách mạng ủng hộ mặt trận
Việt Minh” và “làm xong phải kịp thời rút ngay, không để quân
Nhật, lúc ấy còn đang mạnh, gây thiệt hại”. Một chi tiết khác, riêng
tờ Đông Phát, số 6095, ra ngày 18/8/1945, trên trang đầu, có bài viết
nhan đề “Một Cuộc biểu Tình Khổng Lồ Tại Thăng Long” tường thuật
cuộc biểu tình ngày 17 tháng 8 nhằm ủng hộ Chính Phủ Trần Trọng Kim ngày
hôm mà Đỗ Sâm, người viết những câu trích dẫn kể trên ghi lại, nguyên
văn như sau:
20 vạn dân Việt Nam biểu hiện tình đoàn kết và lòng quả quyết chống giữ
đất nước đối với bọn thực dân. Một điều đáng ghi nhất trong lịch sử, một
số đông phụ nữ đủ các giới, vừa già vừa trẻ, cùng sát cánh làm phận sự
của dân nước, hưởng ứng tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.
Tiếng kèn gọi thiêng liêng của Tổ quốc trong lúc nguy biến hiện thời,
chiều hôm qua đã hấp dẫn tới trước và quanh rạp hát thành phố cùng phố
Tràng Tiền và các phố lân cận một bể người, tới biểu lộ lòng nhiệt liệt,
lòng hăng hái quả quyết bảo vệ nền độc lập và nền tự do của nước Việt
Nam. Cái rừng người có một không hai trong lịch sử, người ta ước lượng
con số 20 vạn không phải là ngoa. Dân chúng đủ các giới, đủ cả nam, phụ,
lão, ấu ở Thăng Long, Gia Lâm, Hà Đông cùng ở các tỉnh lân cận đều kéo
tới, sát vai cùng nhau, áo nâu pha lẫn áo màu của phụ nữ, ô xen với nón
lá, trí thức xen với lao động thành một cảnh tượng vô cùng cảm động. Cảm
động hơn nữa là khi anh chị em nắm tay nhau giơ lên trời thề: “cùng giữ
nền độc lập cho non sông bất diệt” hoặc hô “Đoàn kết” “Chiến đấu”, “Hy
sinh”… Sau trên một tiếng đồng hồ, biển người ấy trước nhà hát lớn mới
đi diễu qua các phố, trời mưa tầm tã nhưng mặc, anh chị em vẫn vừa hô
vừa đi, một lần nữa tỏ lòng quả quyết chống giữ đất nước.
Nói cách khác, vì mắc kẹt Đại Hội ở Tân Trào, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên
Giáp, Trường Chinh và các nhà lãnh đạo tối cao của Đảng Cộng Sản hoàn
toàn không có quyết định gì hay vai trò gì trong biến cố 19 tháng 8 năm
1945 ở Hà Nội. Nói cách khác, tất cả ngay từ đầu, từ việc tiếp xúc với
Khâm Sai Phan Kế Toại, Thủ Tướng Trần Trọng Kim, Bộ Trưởng Hoàng Xuân
Hãn, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ… đến việc thành lập Ủy Ban Khởi Nghĩa Hà
Nội, lựa chọn ngày “khởi nghĩa”, lựa chọn mục tiêu, hoạch định kế hoạch
cho ngày này…, tất cả đều do nhóm lãnh đạo trẻ ở tuổi trên hai mươi ở
địa phương tự quyết định và tự thực hiện không có chỉ thị nào đến từ
lãnh đạo cấp trung ương của Đảng. Vì vậy các vị lãnh đạo cao cấp này đã
hoàn toàn bỡ ngỡ trước chuyển biến quá mau chóng và mười ngày sau, ngày
29 tháng 8, mới về đến Hà Nội.
Về phía những người tổ chức cuộc biểu tình ngày 17 tháng 8 của Tổng Hội
Công Chức, họ cũng nói tương tự. Theo họ cuộc biểu tình này không do
chính quyền trung ương từ Huế, không do Phủ Khâm Sai Bắc Bộ hay Ủy Ban
Giám Đốc Chính Trị Miền Bắc tổ chức hay ra chỉ thị yêu cầu tổ chức, mà
là do các công chức qua Tổng Hội của họ làm với mục tiêu để mừng độc lập
hoàn toàn và thực sự nên được quần chúng nhiệt tình ủng hộ. Chính vì vậy
sau này nguyên Chủ Tịch Trần Ngọc Sâm của Tổng Hội đã tâm sự với bạn bè
và cho rằng “Đây là cuộc biểu tình của những người yêu nước chứ không
như có người cho đây là biểu tình của chính phủ bù nhìn”. Sau này
ngày 17/8/1994, Ông Sâm cũng đã gửi thư cho Tổng Bí Thư Đỗ Mười và Bí
Thư Thành Ủy Hà Nội Phạm Thế Duyệt để yêu cầu đính chính chuyện này và
cho biết sự thực. Ông viết: “Năm 1971, thấy thông tin đại chúng khẳng
định cuộc mít tinh ngày 17/8/1945 do bù nhìn mà cấp ủy Đảng ta ở Hà Nội
đã quyết định cho đi phá rối biến thành tuần hành của Việt Minh… Ngay
khi thấy tài liệu đó, tôi viết thư ngày 19/8/1971 gửi đồng chí Trường
Chinh, Tổng Bí Thư Trung Ương Đảng kiêm Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử
Trung ương đề nghị cho nghiên cứu lại vấn đề ngày 17/8/1945…”. Ông
Trần Ngọc Sâm không nói tới mục tiêu thứ hai sau mục tiêu mừng độc lập
thực sự và hoàn toàn vì hoàn cảnh không cho phép, nhưng người đọc phải
hiểu là còn mục tiêu ủng hộ chính phủ hợp pháp đương thời là Chính Phủ
Trần Trọng Kim nữa. Ngoài ra qua những lời viết kể trên, người ta thấy
các nhóm chữ “bảo vệ nền độc lập và nền tự do”, “cùng giữ nền
độc lập” đã được dùng. Điều này chứng tỏ là ở thời điểm này độc lập
và tự do là đã có nên mới phải bảo vệ và cùng giữ, ít nhất là theo người
phát biểu.
Bảy mươi năm sau, đến lần mình, sau khi định nghĩa từ ngữ “cướp”, nguyên
đại tá Bùi Tín, trong bài viết trên trang mạng của ông, dẫn trên, đã đặt
vấn đề nghiên cứu sâu thêm sự kiện lịch sử này để trả lời câu hỏi Tổng
Khởi Nghĩa hay Cách Mạng Tháng Tám, hay Cướp Chính Quyền, gọi sao cho
chính xác? Đặt câu hỏi nhưng ông đã lập tức trả lời ngay sau câu hỏi do
ông đặt ra và trả lời một cách khẳng định:
Sau 70 năm, nhìn lại không thể gọi biến cố đó là Cách mạng tháng Tám.
Gọi vậy là “ngoa ngôn”, là “đại ngôn”, vì “cách mạng” là phải thay đổi
hẳn chế độ cai trị, đổi mới hoàn toàn bản chất chế độ, đem lại dân chủ,
tự do cho mọi công dân, quyền tự do bình đẳng trong kinh doanh, cốt lõi
là tự do ngôn luận, tự do báo chí.
Ông lý luận nguyên văn như sau:
Gọi là cách mạng trước hết là không chính xác. Cách mạng là một cuộc
thay đổi chế độ trong đấu tranh quyết liệt, thường có bạo lực chống đối,
giằng co nhau, có đổ máu, như cách mạng ở Pháp, ở Hoa Kỳ mà ông Hồ chí
Minh đã dẫn ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945.
Biến cố gọi là Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam hoàn toàn không đổ
máu, không có đấu tranh giằng co bằng bạo lực quyết liệt. Chính quyền
thực dân Pháp đã bị phát xít Nhật lật đổ ngày 9/3/1945 trong một cuộc
đảo chính nhẹ nhàng. Trước đó cả Đông dương thuộc Pháp đã đầu hàng phát
xít Đức, Việt Nam trở thành thuộc địa của nước Pháp thua trận đã đầu
hàng phát xít, cho nên bị khối Đồng minh xếp vào loại bị quân Đồng minh
là quân đội Anh và quân đội Trung Hoa Dân quốc chiếm đóng để giải giáp
quân đội Nhật đã đầu hàng Đồng minh. Quân đội Trung Hoa vào miền Bắc,
quân Anh vào miền Nam.
Việt Nam trở thành đất trống về quyền lực cai trị, chính phủ Trần Trọng
Kim vừa thành lập được 6 tháng còn non yếu, tuy về danh nghĩa đã giành
được nền độc lập từ tay phát xít Nhật đã buông súng đầu hàng Đồng minh.
Do sức ép của quần chúng xuống đường theo lời hiệu triệu của Mặt Trận
Việt Minh do đảng CS Đông Dương tổ chức ra. Vua Bảo Đại thoái vị nhanh
chóng, bày tỏ niềm vui “từ bỏ ngai vàng để trở thành một công dân tự do”.
Bây giờ nói tới bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh. Bản tuyên ngôn
này cũng bị nhiều người coi là không cần thiết vì từ ngày 11/3 trước đó,
Hoàng Đế Bảo Đại, với tư cách nguyên thủ quốc gia và là người thừa kế
Vua Tự Đức, đã tuyên bố hủy bỏ hết các hòa ước bảo hộ 1883 và 1884 mà
Vua Tự Đức và những người kế vị ông đã ký kết với người Pháp rồi và Hồ
Chí Minh đã làm một việc thừa, không cần thiết. Có người cho là bản
tuyên ngôn độc lập của Vua Bảo Đại không thể coi là tuyên ngôn độc lập
được vì bản này được công bố vào lúc Việt Nam chưa hoàn toàn độc lập mà
phải đợi sau này mới có. Điều này cần phải được xét lại vì thứ nhất một
bản tuyên ngôn chỉ là một bản tuyên ngôn, không hơn, không kém với mục
đích là để nói lên nhận định, từ đó lập trường, chủ trương và ý định của
một người hay một nhóm người về một sự kiện, một biến cố hay một vấn đề
gì. Thứ hai là nếu căn cứ vào trường hợp của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của
Hoa Kỳ trước đó thì bản tuyên ngôn này đã được công bố năm 1776, trong
khi Hoa Kỳ chỉ thực sự độc lập từ năm 1783, bảy năm sau đó, khi Thỏa Ước
Versailles được ký kết, mà thôi. Nhưng bản tuyên ngôn của Hoa Kỳ này vẫn
có giá trị riêng của nó. Ngoài ra, vì là tuyên ngôn nên một văn kiện
thuộc loại này mang nặng tính cách chủ quan, từ đó người ta không thể
đòi hỏi hay cho nó một giá trị hợp với công pháp quốc tế được. Đi sâu
hơn vào chi tiết, người ta thấy Bảo Đại và những vị thượng thư của ông
đã tỏ ra rất thận trọng và cân nhắc từng câu, từng chữ để chỉ nói lên
những gì cần phải nói và nói một cách rõ ràng từ phía mình, còn bản
tuyên ngôn của Hồ Chí Minh thì dài lòng thòng, mang nặng tính cách kể
công và xách động quần chúng. Ngay cả những tư tưởng chủ cốt liên hệ tới
độc lập, tự do cũng phải đi vay mượn của người Mỹ hay người Pháp. Có
điều là Hồ Chí Minh có những chủ trương riêng của ông. Chủ trương đó
không đơn thuần là độc lập, tự do cho tổ quốc Việt Nam mà là Cách Mạng
Vô Sản theo chủ nghĩa Cộng Sản, là Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhưng đây chỉ là
nhận định tổng quát, người học sử cần phải đọc kỹ hơn trước khi đối
chiếu hai văn bản. Người viết sẽ xin trình bày chi tiết hơn trong một
bài riêng khác trong phần thứ hai của tác phẩm này.
IV. Ba cách nhìn điển hình về ngày 19 tháng 8 từ phía quần chúng tham
dự: “Tưởng là biểu tình ủng hộ Trần Trọng Kim!” – “Bọn thanh niên chúng
tớ ngơ ngác về chính trị, cứ thấy Mít tinh là ào ào đổ ra đường chẳng
hiểu ai lãnh đạo.”
Cách nhìn thứ nhất là của Đoàn Thêm, cách nhìn thứ hai là của Nhạc Sĩ Tô
Hải và cách nhìn thứ ba của Luật Sư Trần Thanh Hiệp.
1. Đoàn Thêm.
Đoàn Thêm sinh năm 1915, lúc đó 30 tuổi, cử nhân luật khoa, công chức
cao cấp của Phủ Toàn Quyền trước đó và là tác giả của hồi ký Những Ngày
Chưa Quên, xuất bản năm 1969 tại Saigon, đã được trích dẫn trong những
bài trước, người đã trực tiếp tham gia cuộc biểu tình vào lúc 3 giờ
chiều ngày 17 tháng 8 năm 1945 ở Hà Nội do Tổng Hội Công Chức tổ chức
nhằm mừng độc lập hoàn toàn, thâu hồi toàn vẹn lãnh thổ và ủng hộ Chính
Phủ Trần Trọng Kim.
Sau đây là nguyên văn lời tường thuật về những gì đã xảy ra trong cuộc
biểu tình ngày 17 tháng 8 năm 1945 của Đoàn Thêm 24 năm sau:
Trước Nhà Hát Lớn, 15 giờ ngày 17-8, trời kéo con mưa, nhưng hàng vạn
công chức đã sắp thành đoàn đứng chặt đường Paul Bert, kéo dài suốt Hàng
Trống. Dân chúng tới xem, chen chúc trên các ngả phụ cận, Bobillot,
Amiral Courbet.
Trên bao-lan Nhà Hát, cờ ba vạch gãy Quẻ Ly được từ từ đưa lên, trong
tiếng đồng ca vang dội Tiếng gọi Thanh-Niên... Mây xám giãn dần; chợt
thấy giọng ai như của L. béo ngập ngừng qua ống phóng thanh: “mặt trời
tỏ, một điềm vui… Hôm nay chúng ta họp mặt tại đây để mừng cho chủ-
quyền đã thâu hồi toàn-vẹn, và hoan hô Chánh-phủ Trần-Trọng-Kim…”
Hoan-hô! V.N. độc-lập muôn năm!
Hoan-hô VM!
Những tiếng sau là của kẻ nào lén vào hàng ngũ công-chức. Những người
quanh đó sửng-sốt ngơ-ngác… Còn đa-số vẫn mải reo to: Hoan hô V.N. muôn
năm.
Rồi đoàn biểu-tình được lịnh chuyển bước tuần-hành qua nhiều đường lớn,
nhưng mỗi lúc những tiếng lạ tai khi nãy lại được gào thét nhiều hơn.
Tới ngã sáu Cửa-Nam, vài anh áo cộc quần đen, chắc chắn không phải là
công-chức, vừa chạy vừa phất là cờ đỏ giữa có ngôi sao vàng, anh khác
giơ một vật ít thấy có thời đó là khẩu súng lục, bắn vài phát chỉ-thiên
như để thị-uy: anh em hãy cùng chúng tôi hô Mặt Trận Giải Phóng muôn
năm!
Vài công-chức, có lẽ hoảng sợ quá, đành “muôn năm” theo một các
gượng-gạo và máy-móc. Mấy cảnh binh đứng cạnh dọc đường lấm lét hỏi nhau
với vẻ kinh ngạc, nhưng không can thiệp, tuy nhiều đám người khác trên
các vỉa hè cũng nắm tay giơ chào như Phát-xít Ý, và hoan hô một đoàn-thể
mà nhân-viên công-lực cũng không biết là gì.
Nhưng cần chi biết? Hàng chục, hàng trăm, rồi hàng ngàn người cứ việc
“muôn năm” mãi cho tới khi giải-tán, vào khoảng sáu bảy giờ chiều.
Ông tham Đ dừng lại hỏi ông phán N: tưởng là biểu-tình hoan-hô
Trần-Trọng-Kim, mà chẳng thấy ai kêu cụ Trần cả? V.N. chứ sao lại
mặt-trận VM? Một số ông nữa xen vào câu chuyện: ai bảo hoan-hô như thế,
bây giờ còn băn khoăn? Người ta hô, thì làm sao khác được? – Thôi, nó
bắn, ông mất hết vía rồi!
Mất vía còn ít. Như thế này thì mất cả những gì đáng quí hơn tâm hồn
tham phán. Đó là cảm-tưởng sám ngắt như trời mây phủ, nó theo đuổi tôi
trên lối về nhà. Đêm hôm ấy, tôi trằn trọc khó ngủ, vi đầu óc rối ren
như cảnh đã mục-kích ban trưa, và như cảnh hỗn độn mà tôi ngại cho những
ngày sắp tới.
2. Nhạc Sĩ Tô Hải:
Cách nhìn thứ hai là của Nhạc Sĩ Tô Hải, sinh năm 1927, tác giả bài ca
Nụ Cười Sơn Cước và Hồi Ký của Một Thằng Hèn. Ở vào thời điểm tháng Tám
1945, Tô Hải 18 tuổi, mới qua tuổi thiếu niên, bước sang tuổi thanh niên
và đã có bằng tú tài. Mãi 64 năm sau, đến ngày 19 tháng 8 năm 2009 người
nhạc sĩ này mới có dịp ghi lại những gì ông còn nhớ và ghi trên trang
mạng riêng của mình, trong tuần ký số 17, với tiểu đề “Tớ đúng là một
tên gà mờ”, nguyên văn xin được trích như sau:
Như tớ đã thú thật, trong tuần ký số 16 là tớ chỉ viết về những gì tớ đã
tham gia hoạt động thật sự cho những tổ chức có thật trong những ngày
nhốn nháo tù mù đó. Cho nên do không được hân hạnh có nhiều tư liệu như
các friends, tớ chỉ mong muốn các nhà viết sử sẽ dựa vào những tư liệu
có thật, không phán đoán, phê phán vô bằng cớ, không cắt gọt xuyên tạc…
cùng tớ bạch hoá cái chặng đường từ 9/3/45 đến ngày ra mắt chính phủ
Cách Mạng lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà thì chính phủ có cái cờ
vàng, quẻ ly đó mà chính bản thân tớ và cả các ông “to” trong chính phủ
từng cất cao, với câu ca “Này thanh niên ơi!” nó… biến đi đâu? Nhìn ra
đường phố, hôm nay 19/8/2009 ai cần biết cần hát cái bài “Mười chín
tháng tám! Chớ quên là ngày khởi nghĩa” nữa rồi!
Thế đấy! chỉ qua những tài liệu văn bản thu thập được chỉ trong có một
tuần, so với lúc tớ viết tuần kí số 16, thì tớ đã tự trả lời được rất
nhiều câu hỏi, để cỏ thể đủ khả năng kết luận vì sao? Tai ai? Cụ thể là:
Chỉ đơn cử 2 ngày 17 và 19/8/1945 là đã có sự lẫn lộn rồi. Thì ra 17/8
là cuộc Mít tinh của công chức biểu tình ủng hộ chính phủ Trần Trọng
Kim. Còn ngày 19/8 là ngày Mít tinh ủng hộ Việt Minh. Bọn thanh niên
chúng tớ ngơ ngác về chính trị, cứ thấy Mít tinh là ào ào đổ ra đường
chẳng hiểu ai lãnh đạo? Ai hô thế nào thì hô theo thế ấy. Cờ vàng, cờ đỏ
chẳng có gì quan trọng. Miễn là đi qua trại lính Nhật chẳng thấy đứa nào
dám nổ súng dù có hô to “Đả đảo Phát xít Nhật!” “Việt Nam muôn năm!” Cả
hai cuộc mít tinh nói trên đều có mặt cái thằng tớ. Cũng may là tớ chẳng
vướng vào các cuộc mít tinh có lính Tầu Tưởng đứng gác ở chợ Đồng Xuân
để bị nghe “Tỉu cái là ma lồng pào!” khi bị Việt Minh giải tán!....
3. Luật Sư Trần Thanh Hiệp, từ Paris 55 năm sau:
Luật Sư Trần Thanh Hiệp là một luật gia, một nhà nghiên cứu về nhân
quyền và tranh đấu cho nhân quyền cho Việt Nam. Trong một tiểu luận nhan
đề Việt Nam Trên Đường Đi Tới Tương Lai Dân Chủ Hóa, khi viết về Cách
Mạng Tháng Tám, để trả lời câu hỏi mà ông đặt ra là Cách Mạng Hay Cướp
Chính Quyền và sau đó Cách Mạng Tháng Tám thành công như thế nào? Ông
viết nguyên văn như sau:
Chính biến mùa Thu năm 1945 đúng ra là đã không mang lại một thành công
cách mạng nào, dù cách mạng dân chủ nhân dân hay cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Vì chúng chưa bắt đầu. Nói là Cách mạng tháng Tám “thành công” là
để tuyên truyền. Thật ra bản thân chính biến này cũng không mang dự án
cách mạng mà cộng sản đã vạch ra trước. Do đó nó chỉ là một vụ “cướp
chính quyền” để Đảng làm Cách mạng. Trường Chinh gọi đó là “tổng khởi
nghĩa”. Người thầy của cách mạng cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh, trong
thư gửi đồng bào nhân dịp tổng khởi nghĩa này cũng chỉ thúc dục tiến lên
dưới lá cờ Việt Minh, không đả động gì tới cách mạng cộng sản: “Hỡi đồng
bào yêu quý! Giờ quyết định cho dân tộc đã đến. Toàn quốc đống bào hãy
đem sức ta mà giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức đang đua nhau
tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không hể chậm trễ. Tiến lên!
Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!
Vậy nói Cách mạng tháng Tám đã thành công thì chỉ có thể là vì nó đã
cướp được chính quyền cho đảng. Thế thôi. Nhưng nếu vậy thì tất lại phải
đặt ra những vấn đề mới. Cướp chính quyền cho ai? Cướp chính quyền sau
đó sẽ làm gì? Và những việc làm này có giải quyết được vấn đề tiến bộ
hay không?
Thực tế chính trị hơn nửa thế kỷ qua đã trả lời câu hỏi thứ nhất là
“cướp cho Đảng Cộng Sản”. Thực tế này cũng trả lời câu hỏi thứ hai: để
Đảng thiết lập “chuyên chính” dưới nhiều hình thức (chuyên chính công,
nông, chuyên chính vô sản mà chuyên chính là cưỡng đoạt nhân quyền). Câu
hỏi thứ ba muốn trả lời phải vượt ra khỏi hệ thống tư tưởng cộng sản.
Nếu không câu trả lời đã có sẵn rồi và sẽ là “có tiến bộ”. Lập luận như
vậy không rút ra được những bài học của quá khứ.
V. Những giờ phút cuối cùng ở Phủ Khâm Sai theo Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ
1. Ủy Ban Giám Đốc Chính Trị Miền Bắc, Vai trò của Bác Sĩ Nguyễn Xuân
Chữ
Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ là chủ tịch của Ủy Ban Giám Đốc Chính Trị Miền
Bắc, một cơ quan mới được Chính Phủ Trần Trọng Kim thành lập ít ngày
trước khi Việt Minh nổi lên cướp chính quyền và sau khi Khâm Sai Phan Kế
Toại ngỏ ý với Thủ Tướng Trần Trọng Kim xin từ chức trong thời gian Thủ
Tướng ra Bắc và theo đề nghị của Bộ Trưởng Hoàng Xuân Hãn lúc đó là Đặc
Ủy Viên của Chính Phủ ở Miền Bắc nhằm đối phó với tình hình. Ngày thành
lập không được Nguyễn Xuân Chữ nói rõ là ngày nào, nhưng theo Sử Gia Vũ
Ngự Chiêu là ngày 16 tháng 8. Ủy ban này, xin được nhắc lại, gồm có 5
người là Phan Kế Toại, Trần Văn Lai, Đặng Thái Mai (sau này đổi sang
Đặng Thai Mai), Nguyễn Tường Long tức Nhà Văn Hoàng Đạo và Bác Sĩ Nguyễn
Xuân Chữ với Nguyễn Xuân Chữ làm chủ tịch. Vào thời điểm này, Trần Văn
Lai bận việc bên toà thị chánh, Đặng Thái Mai chưa hề có mặt, Nguyễn
Tường Long bị đau nằm bệnh viện và Phan Kế Toại thì tránh mặt ngay sau
khi Ủy Ban được thành lập nhưng chỉ gửi thư cho các ủy viên khác thông
báo từ chức vào ngày chót, ngày 19 tháng 8. Cuối cùng thì chỉ còn một
mình Bác Sĩ Chữ là có mặt tại Phủ Khâm Sai khi đám đông kéo tới và Việt
Minh cướp chính quyền. Ông bị kẹt trong một hoàn cảnh vô cùng bất lợi.
Lý do là vì ngoài vị thế là chủ tịch mà chỉ có một mình lãnh nhiệm vụ,
một bất lợi khác vô cùng quan trọng mà Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ gặp phải
là thời gian không đứng về phía ông: tất cả đã xảy ra vào những ngày
chót khiến ông không có thì giờ sửa soạn. Sắc lệnh bổ nhiệm mà ông nhận
được tới tay ông ngày 16 tháng 8 và tất cả các biến cố quan trọng đưa
tới sự xụp đổ của Đế Quốc Việt Nam đã xảy ra liên tiếp trong ba ngày sau
đó. Không có lễ bàn giao hay nhiệm chức khiến nhân viên dưới quyền không
ý thức được là họ đã có người lãnh đạo mới. Tất cả chỉ vắn tắt qua điện
tín với vai trò và nhiệm vụ không rõ ràng. Chức vụ khâm sai của Phan Kế
Toại trong Ủy Ban Giám Đốc Chính Trị không được định rõ. Có thể chức
khâm sai này không còn nữa và cũng có thể chức này vẫn còn những được
đặt dưới quyền của Ủy Ban và cũng có thể cả hai đều song hành tồn tại và
Ủy Ban được đặt ra để trợ lực cho khâm sai.
2. Khâm Sai Phan Kế Toại Từ Chức:
Tình trạng kể trên chỉ chấm dứt khi các vị trong Ủy Ban Giám đốc nhận
được thư thông báo xin giải nhiệm và giao quyền của Khâm Sai Phan Kế
Toại. Thư đề ngày 19 tháng 8, nguyên văn thư này như sau:
Hanoi 19-6-1945
Thưa các ngài,
Đứng trước tình-hình nghiêm-trọng này, có nhiều đảng phái trong nước
không ủng hộ và muốn đánh đổ tôi, như những việc xảy ra trong cuộc biểu
tình ngày hôm qua, và các việc làm rối cuộc trị an và khủng bố từ đêm
đến giờ.
Tôi tự xét bất-lực để đối phó với tình thế, nên tôi đã đánh điện vào
Kinh-đô xin giải chức và nay tôi xin đem chức-vụ của tôi giao lại Ủy-ban
chỉ-huy chánh-trị đảm-nhận đợi lịnh nội-các.
Ký tên
Phan-Kế Toại
Nguyễn Xuân Chữ đương nhiên ở vào vị thế không nhận vai trò lãnh đạo
thay thế Phan Kế Toại là không được vì theo ông không nhận là vô trách
nhiệm, mà nhận thì khó mà làm gì được. Lý do: tất cả đều quá trễ, đúng
như ông tâm sự trong hồi ký sau này của ông:
Khâm Sai không phải Khâm Sai, Chủ tịch không phải Chủ tịch, mỗ y sĩ ở
một địa vị bẽ bàng, làm một chức vụ dở dang, có những quyền hạn không
định rõ. Bỏ mà đi nốt là trốn trách nhiệm. Trước có thể từ chối và đã từ
chối. Ngày nay bó buộc phải ở chỗ mà tình thế bỗng nhiên đặt vào. Nhưng
“chân ướt chân ráo” bước vào địa vị, uy quyền chưa vững, hơn thế chưa có
mệnh lệnh được tuân theo.
Khi biết tin Việt Minh treo cờ đỏ sao vàng trên gác chuông nhà thờ lớn
và chiếm cứ một nhà in, ra lệnh cho Bảo an binh hạ cờ và trục xuất những
người vi phạm. Buổi chiều hỏi lại xem mệnh lệnh đã thi hành chưa thì
được trả lời là chưa vì ông Đổng lý văn phòng phủ Khâm sai không cho thi
hành.
Hôm sau một toán đông người không ai ngăn cản, rầm rộ kéo vào tận sân
Bắc Bộ Phủ yêu cầu chính quyền bắt nhốt tất cả người Pháp lại. Người
Nhật, sau ngày đảo chính không hề nhốt người Pháp, ngoài những nhân vật
quan trọng. Chính Việt Minh sau này, khi có chính quyền ở tay, không
những không làm việc ấy, còn khuất thân trong những cuộc thương thuyết
và điều đình với người Pháp. Nhưng bây giờ thì Việt Minh đòi. Mỗ y sĩ
cho biết là chính quyền không thấy cần làm công việc ấy thì ông Đổng lý
văn phòng và một bạn khác tự đứng ra giả lời cho đám biểu tình là chính
quyền sẽ giải quyết nguyện vọng.
Cũng theo Nguyễn Xuân Chữ, cuộc biểu tình ngày Chủ Nhật, 19 tháng 8 đã
được Thị Trưởng Hà Nội Trần Văn Lai, vì có bạn trong hàng ngũ cao cấp
Việt Minh, cho phép. Ông kể lại nguyên văn như sau:
Ông Đô trưởng có ít nhiều bạn trong hàng ngũ cao cấp Việt Minh, cho phép
Việt Minh biểu tình ngày Chủ nhật, tức ngày 19 tháng 8.
Đây là một điều quan trọng về lịch sử. Không ai không biết rằng Việt
Minh sẽ nhân cơ hội cướp chính quyền. Nhiều người đã báo tin cho mỗ y
sĩ, chính ông Đặc phái viên họ Hoàng cũng đã cho mỗ y sĩ sĩ biết sự kiện
có thể xảy ra và nói thêm là thấy mỗ y sĩ có đủ tư cách đối phó. Ông Đô
trưởng đã cho phép vì cảm tình? Vì nhẹ dạ? Sau này, ông đã hối hận.
Trước ngày này, công chức cũng tổ chức một cuộc biểu tình lớn. Việt Minh
đã nhân cơ hội làm một vài việc thử thách. Trà trộn vào hàng ngũ công
chức, chăng những cờ đỏ sao vàng, những biểu ngữ riêng. Cảnh binh không
can thiệp, công chức hoan hỉ có sự hiện diện của Việt Minh.
Điều cần để ý qua lời kể trên đây của Nguyễn Xuân Chữ là cuộc biểu tình
ngày 19 tháng 8 năm 1945 là do Việt Minh tổ chức nhưng có xin phép trước
và đã được Thị Trưởng Hà Nội Trần Văn Lai chấp thuận khiến sau này Trần
Văn Lai đã hối hận. Sự kiện này chứng tỏ rằng chính quyền đương thời cho
đến giờ phút này vẫn còn tồn tại và được mọi người tôn trọng, kể cả Việt
Minh và Dụ mới được ban hành về tự do hội họp đã được mọi người tuân
hành chứ không phải chỉ là một quyết định trên giấy.
Câu hỏi được đặt ra là công chức và cấp chỉ huy của họ, những người cầm
quyền hành chánh cũng như cảnh sát thì như vậy, quân đội thì sao? Câu
trả lời, cũng theo Nguyễn Xuân Chữ, còn tệ hơn, không phải chỉ vì quân
số quá ít mà vì các cấp chỉ huy đã bị tuyên truyền và ngả theo Việt Minh
gần hết, thậm chí viên trung úy chỉ huy phó Bảo An Binh còn đến xin phép
Bác Sĩ Chữ cho đi biểu tình theo lời mời của Việt Minh cùng với ban quân
nhạc.
Tình trạng bi đát kể trên sau này Bác Sĩ Chữ tóm tắt như sau:
Ôn lại tất cả các sự kiện kể trên trong tình thế dồn dập để có những
nhận xét xác đáng, có thể nêu ra những điều tóm tắt dưới đây, chứng thực
câu đã viết “không ở nơi nào thấy một cột nhỏ có thể dựng được” để chống
đỡ.
Ông Bộ trưởng, Đặc phái viên họ Hoàng không có thái độ rõ rệt, không dám
nói ông có thể liên lạc với Việt Minh.
Phan Khâm Sai đã ngã lòng trước thời cuộc, không dám nói ông đã ngầm đi
với Việt Minh.
Trần Đô trưởng không chống lại Việt Minh.
Ông Đổng lý văn phòng phủ Khâm Sai ủng hộ Việt Minh, không dám nói ông
có thể đi với hoặc mơn trớn Việt Minh.
Các công chức có cảm tình nồng hậu với Việt Minh.
Các cảnh binh không can thiệp vào những hành động phi pháp của Việt
Minh.
Về phía chính quyền dân sự, như vậy, từ trên xuống dưới, dầu không ra
mặt ủng hộ Việt Minh cũng ngầm hưởng ứng. Không một nơi nào có sự ra mặt
công khai chống Việt Minh.
Về phía quân nhân, các cấp chỉ huy đã theo Việt Minh.
Rút lại, rõ rệt có ý chống đối Việt Minh, cũng lại còn một người, tức mỗ
y sĩ.
3. Phản ứng của các đảng phái quốc gia
Nếu “MTĐVQGLM” không đồng ý mà cứ đoạt chính quyền trước, thì “MTVM”
cũng sẽ đoạt ngay hết chính quyền ở các tỉnh; đồng thời cho phá vỡ ngay
đê sông Hồng cho nước tràn đầy Hà Nội, cô lập hóa Thủ Đô theo kế hoạch
đã được bố trí sẵn sàng.
(Đại biểu Mặt Trận Việt Minh)
“Thì ra đến giờ phút này mà các anh vẫn chưa hiểu rõ Việt Minh Cộng Sản
là thế nào cả? Huống hồ là dân chúng!
“Tôi xin nói thẳng mong các anh đừng mếch lòng! Những phần tử CS họ rất
sẵn sàng đi đôi với tất cả các thế lực, mặc dầu là thực dân Pháp hay
quân phiệt Tầu, nghĩa là tiêu diệt được những những người cách mạng dân
tộc chúng ta. Nếu nay để cho CS nắm được chính quyền, họ sẽ đặt tình thế
trước sự đã rồi. (Lê
Khang, Việt Nam Quốc Dân Đảng)
Cũng trong thời gian này, từ bên ngoài, các đảng phái chính trị cũng có
những hoạt động hướng vào Phủ Khâm Sai nhưng không phải là để bảo vệ
chính quyền mà là để giành chính quyền cho họ. Mở đầu là cuộc tiếp xúc ở
Phủ Khâm Sai, có sự tham dự của Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ. Bác Sĩ Chữ không
nói rõ là ngày nào nhưng cho biết là “nội buổi tối” sau khi ông mới nói
về chuyện Nhật Hoàng hạ lệnh cho quân đội Nhật giải giáp ở mọi nơi,
khiến ta có thể hiểu là tối ngày 15 tháng 8, ông được Phan Kế Toại cho
xe ra đón vào Phủ để giải quyết một vấn đề khẩn cấp. “Đến nơi, thấy
trước đại quan có hai người khách ngồi nói chuyện biết đấy là lãnh tụ và
phó lãnh tụ của một đảng cách mệnh đã từng cộng tác chặt chẽ với quân
đội Nhật thời kỳ đảo chính.” Bác Sĩ Chữ không cho biết tên hai người
này nhưng theo tác giả Hoàng Văn Đào vị lãnh tụ này là Nguyễn Xuân Tiếu
của Đại Việt Quốc Xã “là một đảng được người Nhật giúp đỡ nên rất
hoạt động trong thời Nhật chiếm đóng. Đảng này công khai hoạt động, có
trụ sở ỏ nhiều nơi và thu hút được khá nhiều thanh niên yêu nước”.
Hai nhân vật này đến “với mục đích ép ông Khâm Sai từ chức để nhường
chức cho lãnh tụ đảng”. Vì cho rằng đòi hỏi như vậy là quá đáng, lại
ra ngoài pháp lý, Bác Sĩ Chữ yêu cầu được nói chuyện riêng với hai nhà
cách mệnh. Cuộc đối thoại giữa hai bên đã được ông kể lại như sau:
Lãnh tụ nói:
- Người Nhật chỉ tin có chúng tôi và chỉ giao khí giới cho chúng tôi.
- Người Nhật cũng đã giao khí giới cho ông Phan Kế Toại ở nơi Bảo Anh
Binh.
- Nhưng cần phải có tất cả khí giới hiện ở tay người Nhật trước khi quân
đội Nhật giải giới.
Mỗ y sĩ ngờ là nhân vật Nhật, đã nói đến nhiều lần, bầy mưu kế cho hai
nhà lãnh tụ.
“Nếu người Nhật quả thật chỉ tin có các vị, người Nhật phải chính thức
đề đạt các vị nơi Triều đình Huế để Triều đình bổ nhiệm, sau khi đã cất
chức ông Phan Kế Toại hoặc bắt họ Phan từ chức. Một đường quan chỉ có
thể từ chức trước Triều đình. Chưa bao giờ có chuyện một công khanh từ
chức với một người để nhường địa vị cho người ấy. Nếu các vị muốn sung
chức Khâm Sai, tất phải làm một cuộc đảo chính, hạ đương sự mà thay
thế.”
Không biết ông Khâm Sai có từ chức hay không? Nhưng mỗ y sĩ cảm thấy ông
không muốn ngồi ở địa vị trước tình thế khó khăn. Cho nên về sau, nhân
cơ hội, ông đã lặng lẽ đặt trách nhiệm nặng nề vào mỗ y sĩ. Ngày ấy và
cho đến bây giờ người ta vẫn cho rằng mỗ y sĩ đã lĩnh chức Khâm Sai. Sự
thực không phải thế.
Điều cần để ý ở đây là tại sao hai vị lãnh tụ kể trên lại nêu vấn đề
“cần phải có tất cả khí giới ở tay người Nhật trước khi quân đội Nhật
giải giới”? Câu trả lời đã được Bác Sĩ Chữ gián tiếp cho biết khi ông kể
lại sự kiện “một toán đông người không ai ngăn cản, rầm rộ kéo vào
tận sân Bắc Bộ Phủ, yêu cầu chính quyền bắt nhốt tất cả người Pháp lại.”
Lý do là vì “Người Nhật, sau ngày đảo chính không hề bắt nhốt người
Pháp, ngoài những nhân vật quan trọng.” Nói cách khác, đó là để
chống lại người Pháp nổi dậy tái lập chế độ bảo hộ của họ, điều mọi
người Việt Nam ở thời này đều e ngại và đề phòng. Sự kiện này phù hợp
với những gì Hoàng Văn Đào ghi rõ hơn trong tác phẩm của ông là sau khi
gặp Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ và bị Bác Sĩ Chữ bác bỏ đề nghị Phan Kế Toại
từ chức của Nguyễn Xuân Tiếu, Nguyễn Xuân Tiếu đã quyết tâm đảo chính.
Nguyên văn lời viết của Hoàng Văn Đào như sau:
Hôm ấy vào buổi chiều ngày 17 tháng 8, Nguyễn Xuân Tiếu cùng 4 vị sĩ
quan Nhật Bản hoá trang, mỗi người vai đeo một khẩu tiểu liên, ngoài phủ
chiếc áo dài thâm Việt Nam, hướng dẫn 300 thanh niên võ trang súng
trường, không ai ngăn cản, rầm rộ tiến vào Khâm Sai phủ. Một cuộc mà bề
ngoài coi như là “Biểu Tình”, đòi Chính quyền bắt nhốt hết tất cả người
Pháp lại.
Đổng Lý văn phòng Khâm Sai họ Phạm trả lời: “Chính quyền sẽ giải quyết
nguyện vọng.”
Giữa khi ấy, một cán bộ trong Mặt Trận ĐVQGLM được phái đến mật báo cho
ông Tiếu biết rằng” Quân đội Pháp ở trong thành đã đào lấy lên được một
số võ khí quan trọng mà chúng đã chôn dấu từ trước, quyết định tối nay
tràn ra đánh chiếm Hà Nội yêu cầu tạm lui quân để chặn đánh Pháp trước,
rồi sáng mai hãy đoạt chính quyền chưa muộn.”
Nguyễn Xuân Tiếu còn đương phân vân chưa quyết định. Lãnh tụ Trương Tử
Anh cỡi xe đạp tới, cùng báo mật tin như trên, và yêu cầu giao ngay số
300 thanh niên võ trang lại cho họ Trương, kịp gấp đi bố trí các nơi,
phòng bị Pháp quân từ trong thành đánh ra.
Tức thời Trương Tử Anh chỉ huy 300 thanh niên võ trang ra khỏi Khâm Sai
phủ. Nguyễn Xuân Tiếu cùng 4 sĩ quan Nhật Bản cùng nhau trở về. Chờ mãi
tới đêm 18 rạng ngày 19 mới thấy một số thanh niên trở về báo cho Nguyễn
Xuân Tiếu biết: “ Lãnh tụ họ Trương đã trao họ cho Trung và Quế tức Cối
Kê là Hiến binh Nhật Bản, bị tên Quế tước hết khí giới, rồi đưa đến giữ
ở trong trại Bảo An Binh.”
So sánh nội dung đoạn sách kể trên với nội dung văn thư Phan Kế Toại gửi
cho các Ủy Viên Ủy Ban Giám Đốc Chính Trị thông báo từ chức cũng như lời
kể của Nguyễn Xuân Chữ, việc Đại Việt Quốc Gia Liên Minh dự định đảo
chính ở Phủ Khâm Sai trước khi Việt Minh cướp chính quyền là có thực.
Chi tiết này cũng được Đoàn Thêm ghi vắn tắt mấy chữ: 18-8-1945.-
Bắc-bộ-phủ bị quần-chúng ùa tới bao vây, Khâm-Sai Phan-kế-Toại vắng mặt,
rồi loan tin từ chức.
Câu hỏi được đặt ra là tại sao nỗ lực kể trên đã bị đã bị thất bại? Câu
trả lời là vì phía những người Quốc Gia không có lập trường dứt khoát và
thống nhất, chưa kể tới chủ quan, khinh địch, hiểu sai và coi nhẹ thế
lực của Việt Minh và không hiểu rõ vai trò của quân đội Nhật và Đồng
Minh ở vào thời điểm này và luôn luôn e ngại bị Đồng Minh cho là thân
Nhật. Điều này có thể được thấy rõ qua hai buổi họp là buổi họp chiều
ngày 11 tháng 8 năm 1945 của Ban Chấp Hành của Mặt Trận Đại Việt Quốc
Gia Liên Minh để quyết định về vấn đề đoạt chính quyền ở Miền Bắc và
buổi họp khẩn cấp tối ngày 17 tháng 8 của “Liên Minh Quốc Dân Đảng.”
Hoàng Văn Đào đã ghi lại các chi tiết sau đây:
Về buổi họp thứ nhất:
Trong cuộc thảo luận, hội nghị chia làm hai phái, ý kiến mậu thuẫn nhau.
Một phái gồm có Chu Bá Phượng, Trương Tử Anh và đại diện của Nguyễn
Tường Long (ông Long bị bệnh thương hàn phải điều trị tại bệnh viện) chủ
trương rằng: “Muốn được Đồng Minh công nhận Chính phủ của chúng ta sau
này, thì chúng ta không được phép hợp tác với Nhật Bản bất cứ dưới hình
thức nào. Nếu hợp tác với họ, đó là chống lại Đồng Minh và đi ngược với
trào lưu Quốc Tế, chúng ta tất sẽ bị tiêu diệt. Còn nếu Việt Minh Cộng
Sản có cướp chính quyền chăng nữa, cũng chẳng quan ngại gì! Vì lực lượng
của phe cách mạng dân tộc chúng ta có thể nói là mạnh gấp bội phe VMCS
kể cả về mọi phương diện; chúng ta có đủ sức tiêu diệt họ. Vậy tốt hơn
hết là chúng ta hãy nên chờ quân ở Hải ngoại cùng quân đội Đồng Minh sắp
nhập cảnh nay mai bằng ba ngả đường Lao Kai, Lạng Sơn và Móng Cái; rồi
sẽ liên hiệp lập chính phủ có Đồng Minh đứng sau ủng hộ; đại cuộc của
chúng ta tất sẽ thành.” Một phái chủ trương nên dựa vào thế lực quân đội
Nhật Bản cướp chính quyền ngay. Sau khi đã có quyền, đợi các đồng chí
cách mạng từ Hải ngoại về tới, sẽ cùng nhau lập Chính phủ. Đại biểu cho
phái này là Nguyên Xuân Tiếu tức Nguyễn Lý Cao Kha.
Hội nghị đương họp chưa quyết định bề nào, thì đột nhiên Trần Văn Cương
cùng Đặng Đức Hinh đại diện nhóm “Phụng Sự Quốc Gia” hướng dẫn Đại Biểu
“Mặt Trận Việt Minh” tới, đề nghị không nên đảo chính vội, viện lý do
khi quân đội Đồng Minh tới sẽ cho là chính phủ thân Nhật Bản, không có
lợi. Nếu “MTĐVQGLM” không đồng ý mà cứ đoạt chính quyền trước, thì
“MTVM” cũng sẽ đoạt ngay hết chính quyền ở các tỉnh; đồng thời cho phá
vỡ ngay đê sông Hồng cho nước tràn đầy Hà Nội, cô lập hóa Thủ Đô theo kế
hoạch đã được bố trí sẵn sàng.
Hội nghị đâm hoang mang rồi giải tán.
Ta thấy ngay là quan điểm của đa số người Việt thời này là sợ mang tiếng
thân Nhật khi Đồng Minh tới, trong khi Việt Minh thì được tiếng là chống
cả Pháp lẫn Nhật. Những gì xảy ra sau này cho thấy sự thực không hoàn
toàn như vậy. Đồng Minh không hề làm khó dễ cho những người bị coi là
thân Nhật mà chỉ lo tước khí giới quân đội Nhật mà thôi. Đó không phải
là việc làm của Đồng Minh mà chỉ là sự tuyên truyền, hù dọa do Việt Minh
gây ra mà thôi.
Buổi họp thứ hai được triệu tập một cách bất ngờ vào buổi tối ngày 17
tháng 8 sau khi cuộc mít-tinh của công chức tại Nhà Hát Lớn Hà Nội bị
biến thành cuộc mít-tinh biểu tình của Việt Minh, mà Hoàng Văn Đào ghi
lộn là ngày 18 tháng 8. Trong buổi họp này, về phía Việt Nam Quốc Dân
Đảng có Chu Bá Phượng, Nguyễn Văn Viễn, Lê Khang, về phía Đại Việt Quốc
Dân Đảng có Trương Tử Anh, Phạm Khải Hoàn, và một người được gọi là Đồng
Chí Kim… để bàn về việc đoạt chính quyền vào đêm hôm này. Hoàng Văn Đào
đã viết nguyên văn về cuộc thảo luận này như sau:
Các đồng chí ĐVQĐD cho rằng: “Cuộc cách mạng nào cũng chỉ đi tới mục
đích là giành lại độc lập cho tổ quốc. Thì dẫu Mặt Trận Việt Minh hay
đoàn thể nào cũng vậy! VM nắm được chính quyền, chúng ta sẽ tham gia
hướng dẫn họ trên công cuộc phụ vụ nhân dân, nếu họ muốn trở mặt, lúc đó
chúng ta sẽ lấy nhân dân làm hậu thuẫn mà hạ họ xuống. Vả lại, lực lượng
của họ có gì đáng cho chúng ta lo ngại! Nếu nay chúng ta dùng võ lực để
đối phó, trong lúc này ắt có cuộc lưu huyết! Cộng Sản chưa thấy đâu mà
đã thấy ngay dân chúng bị tàn sát. Sau đây lịch sử sẽ quy tội cho chúng
ta là tham cầu địa vị, gây nên cảnh nồi da sáo thịt; tội đó há riêng một
cá nhân gánh chịu!
Lê Khang cực lực phản kháng:
“Thì ra đến giờ phút này mà các anh vẫn chưa hiểu rõ Việt Minh Cộng Sản
là thế nào cả? Huống hồ là dân chúng!
“Tôi xin nói thẳng mong các anh đừng mếch lòng! Những phần tử CS họ rất
sẵn sàng đi đôi với tất cả các thế lực, mặc dầu là thực dân Pháp hay
quân phiệt Tầu, nghĩa là tiêu diệt được những những người cách mạng dân
tộc chúng ta. Nếu nay để cho CS nắm được chính quyền, họ sẽ đặt tình thế
trước sự đã rồi. Chúng ta sẽ đi tới tự sát. CS sẽ áp dụng mọi thủ đoạn
để tiêu diệt chúng ta ngay. CS sẽ tuyên truyền công bố ngay với dân
chúng: chúng ta là những tên phản động, phản quốc, Việt gian!
“Chúng ta không nên đóng vai trò thụ động, không được phép chờ họ khủng
bố rồi mình mới đánh lại; chúng ta nên tấn công họ trước, mới nắm được
phần thắng về mình. Tôi khẩn khoản yêu cầu các anh hãy mau nắm lấy chính
quyền, rồi tóm cổ hết những phần tử CS nhốt lại, để trừ mối họa cho dân
tộc.
“Chúng ta nắm được chính quyền, chỉ thu số súng đạn của Bảo An Binh cũng
có tới 5.000 khẩu, cùng với số súng đủ loại ở kho Ngọc Hà của Pháp trước
mà Nhật tước được có trên 20.000 khẩu, mà nay Nhật Bản sẵn sàng trao lại
cho chúng ta. Với lực lượng ấy chúng ta có thể lập ba sư đoàn cách mạng
quân để đối phó với tình thế, tiến tới một chính quyền thống nhất toàn
quốc.
“Nếu các anh cương quyết không chịu nghe ý kiến tôi, thì một ngày rất
gần đây khi CS đã nắm vững tình hình, họ sẽ sách động gây nên cuộc giai
cấp đấu tranh, hủy diệt Tôn Giáo, tổ chức phong trào đấu tố, thì ngay vợ
con các anh sẽ đấu tố các anh là phản động, là…các anh sẽ không còn đất
để đứng! Để họ tạo nên một giai cấp quan liêu thống trị mới hưởng mọi
đặc ân và sẽ loại trừ hết các đảng phái Quốc Gia, họ sẽ đưa quốc gia ta
lệ thuộc vào hàng ngũ Đệ Tam Quốc tế”.
Ý kiến của Lê Khang không được hội nghị chấp thuận, bởi Chu Bá Phượng,
Nguyễn Văn Viễn… vì quá nhu nhược lừng chừng, thiếu quả quyết.
Thấy cơ hội độc nhất đã lỡ! Vô phương cứu vãn! Lê Khang cùng một số đồng
chí lặng lẽ bỏ lên Vĩnh Yên tìm Đỗ Đình Đạo thảo kế hoạch đoạt chính
quyền tỉnh Vĩnh Yên làm địa bàn hoạt động.
Các võ trang đảng viên QDĐ được huy động từ chiến khu triệu về tập trung
tại trường tiểu học Hàng Kèn, Hà Nội để đợi lệnh đoạt chính quyền cũng
thứ tự rút lui
Cũng về biến cố này, Hoàng Tường, một đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng
khác đã kể lại câu chuyện như sau:
Các cán bộ quốc-gia chứng kiến cuộc biểu tình tuần hành của Việt Minh
ngạc nhiên tự hỏi: Tại sao VM không chiếm chính quyền ngay chiều hôm 17?
Có lẽ chưa được lệnh của thượng cấp? Có lẽ đấy chỉ là một cuộc biểu tình
để trắc nghiệm xem phản ứng của Nhật bản ra sao, rồi mới đặt kế hoạch?
Mãi đến sáng hôm sau họ mới cho loan truyền quyết định tổ chức biểu tình
cướp chính quyền vào ngày 19 tháng 8, 1945.
Từ ngạc nhiên đến toan tính: Trung ương Đảng bộ ra lệnh chuẩn bị gấp,
đoạt chính quyền tối 18 rạng 19, trước rạng đông. Mọi việc cần phải làm
đều được sắp xếp: cờ xí, biểu ngữ, bích chương và tuyên cáo quốc dân.
Tất cả cán bộ và đảng viên hiện diện được lệnh chia nhau túc trực ở các
cửa ô đợi lệnh. Võ khí tuy chưa có nhiều nhưng theo báo cáo thì “ta” đã
có một số anh em binh sĩ trong trại bảo an binh sẵn sàng tiếp tay. Như
dự định, anh em cán bộ và đảng viên đã sắp đặt ai nhiệm vụ ấy, kéo đến
phủ Khâm sai, nhà máy đèn, đài phát thanh.
Nhưng, lúc ba giờ sáng ngày 19-8-45, không biết vì nhũng lý do gì mà hội
nghị cấp lãnh đạo lại hủy bỏ kế hoạch đoạt chính quyền, và ra lệnh cho
tất cả phân tán mỏng, ai về nhà nấy, nhường cho Việt Minh làm công cuộc
ấy sáng hôm sau, 19-8-45.
Hồi ấy, người viết chỉ là một đảng viên cấp thấp, không được dự hội nghị
có tính cách quyết định lịch sử ấy, nên không tường sự việc. Hai hôm
sau, người viết hỏi anh Chu Bá Phượng (cũng gọi là anh Hai) thì anh cho
biết là theo quyết định của hội nghị, “ta” hãy tạm thời nhường Việt Minh
một bước, để sau khi quân Đồng minh vào, sẽ tính.
Nói tóm lại qua những tài liệu kể trên, ta thấy các đảng phái Quốc Gia
cũng có kế hoạch cướp chính quyền trước cả Việt Minh, nhưng vì nhiều lý
do như thiếu thống nhất, thiếu quyết đoán, coi thường đối thủ, lại sợ bị
mang tiếng thân Nhật có hại khi quân Đồng Minh tới, sợ Việt Minh phá đê
Sông Hồng để nước tràn vào Hà Nội và Cộng Sản sẽ làm chủ nông thôn, cô
lập Hà Nội, cũng như đặt quyền lợi của quốc gia lên trên quyền lợi của
phe nhóm, trong đó có Cộng Sản… nên nửa chừng bỏ dở giúp cho Việt Minh
nắm được cơ hội cướp được chính quyền trước khiến tình hình sau đó trở
thành quá trễ và là thảm họa lớn cho chính họ, đúng như Lê Khang cảnh
cáo trước. Nên để ý là Lê Khang hay Lê Ninh ở thời này được coi là một
lãnh tụ sáng giá của Việt Nam Quốc Dân Đảng qua câu nói được truyền tụng
“Việt Quốc Lê Ninh, Việt Minh Trần Văn Giàu”. Ông bị Việt Minh giết sau
này.
Cuối cùng, về thái độ của các đảng phái quốc gia trong thời gian này,
Nguyễn Tường Bách, trong Việt-Nam Một Thế-Kỷ Qua, Hồi Ký Cuốn Một
1916-1946, in năm 1998, 53 năm sau đã viết:
Cần phải khách quan để rút kinh nghiệm về những bài học lịch sử. Lực
lượng các đảng phái quốc gia Việt Nam thiếu tổ chức có hệ thống chặt
chẽ, thiếu lãnh đạo sáng suốt, thiếu võ trang, tuyên truyền trong quần
chúng, thiếu khu căn cứ, tới ngày quyết liệt lại không mạnh dạn cướp lấy
thời cơ trăm năm có một, kết quả lâm vào thế bị động và nguy nan.
Có anh em lại chủ trương không nên xung đột với Việt Minh gây đổ máu
giữa người Việt với nhau vô ích, đợi CS lên cầm quyền rồi dần dần nó sẽ
lộ chân tướng, và tất sẽ bị nhân dân lật đổ. Một chủ trương quá lý tưởng
và quá tin ở người khác. Vì không nghiên cứu kỹ càng về sách lược, chiến
thuật nên không hiểu gì về câu châm ngôn của CS “tất cả vì chính quyền”
– có chính quyền là có tất cả. Đến bây giờ, người CS vẫn coi trọng câu
châm ngôn ấy, bám chặt chính quyền là vấn đề số 1 đối với họ.
Chưa hết, về thái độ đối với chính quyền của Hoàng Đế Bảo Đại của các
đảng phái quốc gia, tác giả Nguyễn Tường Bách nhận định thêm:
Nếu trước kia, các đảng phái quốc gia biết cách hợp tác với chính quyền
Bảo Đại, dựng một chính phủ vững mạnh thì đã không những ngăn ngừa được
nền chuyên chính của CS, mà còn có thể lãnh đạo toàn dân chống đế quốc
Pháp quay trở lại.
Bất cứ một chính phủ dân tộc nào lúc đó cũng có khả năng chỉ huy cuộc
kháng chiến, cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới. Việc đảng CSVN
ngụy biện là đã đánh đuổi được hai đế quốc Pháp-Nhật, giải phóng cho dân
tộc lúc ấy, chỉ là một tuyên truyền vô căn cứ, để mê hoặc dân chúng. Dựa
vào lập luận ngụy biện này, đảng CS đã có thể lôi kéo dân chúng đi theo
con đường tai họa xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô sản. Thật ra lúc
này Pháp đã bị Nhật tước quyền rồi, mà Nhật lại đã đầu hàng.
Nhận định của Nguyễn Tường Bách như một người đương thời về chuyện “Nếu
trước kia các đảng phái quốc gia biết cách hợp tác với chính quyền Bảo
Đại”, phần nào tương tự như cái nhìn của Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Hồng Tung
thuộc trường Đại Học Quốc gia Hà Nội sau này trong tác phẩm Nội Các
Trần Trọng Kim: Bản Chất, Vai Trò và Vị Trí Lịch Sử xuất bản năm 2009.
Phạm Hồng Tung coi sự thiếu vắng các chính khách chuyên nghiệp là tử
huyệt đầu tiên trong hai tử huyệt của Nội Các Trần Trọng Kim. Giáo Sư
Phạm Hồng Tung viết:
“Thứ nhất, tất cả những thành viên của nội các đều không phải là chính
khách chuyên nghiệp, không có kinh nghiệm trong hoạt động lãnh đạo, quản
lý. Hơn nữa, họ không hề có hậu thuẫn chính trị từ bất kỳ đảng, nhóm
chính trị nào. Dù họ có tài năng, học thức, và là người chân thành yêu
nước, có đạo đức tốt thì họ cũng chỉ có thể làm tốt vai trò bộ trưởng
trong những điều kiện bình thường. Nhưng chắc chắn họ đều không thích
hợp cho một chính phủ như nội các Trần Trọng Kim ở vào hoàn cảnh khó
khăn, đầy thách thức từ sau cuộc đảo chính Nhật-Pháp cho tới khi Chiến
tranh thế giới thứ hai kết thúc.
Tuy nhiên như đã dẫn ở trên, trong hồi ký của ông, Trần Trọng Kim đã
giải thích sự không mời các chính khách chuyên nghiệp là vì “Những
người làm chính trị nói huyên thuyên thì nhiều, song người chín chắn
biết suy nghĩ và biết cách đối lại với dân chúng cho êm ái thì ít.”
Ngoài ra ta cũng cần phải để ý tới sự khác biệt về chủ nghĩa, về chính
kiến, nói riêng, và cách nhìn thời cuộc, nói chung, của các vị này khiến
cho từ Vua Bảo Đại đến Thủ Tướng Trần Trọng Kim và luôn cả báo chí, đã
luôn luôn kêu gọi mọi người phải đoàn kết, tôn trọng kỷ luật, cùng nhau
làm việc, điển hình là Bác Sĩ Phạm Hữu Chương qua bài tường thuật buổi
lễ ra mắt của Nội Các Trần Trọng Kim ở Huế đã dùng nhan đề “Bình Tĩnh
Để Suy Xét” đăng trong Trung Bắc Tân Văn số 245, ngày 20
tháng Năm 1945, để kêu gọi mọi người. Cuối cùng ông viết:
Quản ngại chi. Bám chặt lấy rồi sẽ mon men tìm lối lên bờ. Những ai quá
nóng nảy hãy nên bình tĩnh xét lại thế cờ xem cách chống đỡ có đúng phép
hay không? Khi ta đã đồng ý kiến tất con đường đi chung của ta sẽ dễ
tìm.
Sau này khi phải đối phó với thực tế trong những ngày trước ngày 19
tháng Tám, các vị này đã cho người ta thấy nhận xét của Thủ Tướng Trần
Trọng Kim là đúng.
Có điều “hoàn cảnh khó khăn, đầy thách thức” này không do người ngoại
quốc gây ra mà như Nguyễn Tường Bách viết mà là do Việt Minh, qua châm
ngôn “tất cả vì chính quyền” – có chính quyền là có tất cả, như
một mục tiêu giai đoạn nhằm thực thi xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô
sản, mục tiêu tối hậu của họ, đặc biệt là trong những ngày cuối của
trung tuần tháng 8 năm 1945 vì ở thời điểm này người Nhật đã đầu hàng và
Quân Đội Nhật chỉ còn nhiệm vụ do Đồng Minh trao phó là giữ an ninh trật
tự cho đến khi Quân Đồng Minh tới. Trong khi đó Chính Phủ Trần Trọng
Kim, qua đích thân Thủ Tướng, Khâm Sai Phan Kế Toại và sau cùng là Bộ
Trưởng Hoàng Xuân Hãn, như đã nói ở trên, đã cố gắng mời tổ chức này hợp
tác nhưng đều bị từ chối.
Giáo Sư Phạm Cao Dương
July 27, 2021
Chú Thích
[1] Bùi Tín, “Cướp”, trang mạng của VOA, Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, 27 tháng
8 năm 2015. Tác giả là cựu đại tá của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam,
Phó Tổng Biên Tập tờ Quân Đội Nhân Dân, viết từ Paris.
[1] “Hiệu Triệu Của Tổng Bộ Việt Minh”, trong Trần Huy Liệu và Văn Tạo,
Tổng Khởi Nghĩa Tháng Tám, Tài Liệu Tham Khảo Lịch Sử Cách Mạng Cận Đại
Việt Nam. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Văn Sử Địa, 1957, tr. 38.
[1] - như trên-, tr. 52, 53, 74, 75.
[1] Saigon: Vinh Sơn, 1959.
[1] Lê Trọng Nghĩa, “Các Cuộc Tiếp Xúc Giữa Việt Minh Với Chính Phủ
Trần Trọng Kim, trong Xưa và Nay, số 5 (6), VII, 1994, tr. 4 – 6; số 6
(7), IX, 1994, tr. 9 – 11
[1] Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ, Những Bài Học Quý Báu của Một Nhà Ái Quốc
Liêm Chính, Nhưng Bất Phùng Thời. Houston, TX: Văn Hóa, 1996.
[1] Lê Trọng Nghĩa, “Các Cuộc Tiếp Xúc…, đã dẫn, tr. 4.
[1] Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi, tr. 86-87.
[1] Lê Trọng Nghĩa, “Các Cuộc Tiếp Xúc…”, đã dẫn, tr. 4.
[1] Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ, đã dẫn, tr.283.
[1] Nguyễn Thành, Báo Chí Cách Mạng Việt Nam 1925-1945. Hà Nội:
Nhà Xuất Bản Khoa Học xã Hội, 1984, tr.282.
[1] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam Một Thế Kỷ Qua, Hồi Ký, phần I, đã dẫn,
tr. 154.
[1] Trần Huy Liệu và Văn Tạo, Tổng Khởi Nghĩa Tháng Tám, Tài Liệu Tham
Khảo Lịch Sử Cách Mạng Cận Đại Việt Nam, Tập XII. Hà-Nội: Nhà Xuất
Bản Văn Sử Địa, 1957, tr. 148-150.
[1] Xin xem hồi ký của nhạc sĩ này trong Một Chặng Đường Văn Hóa, Tập
Hồi Ức và Tư Liệu về Đề Cương Văn Hóa của Đảng và Đời Sống Tư Tưởng Văn
Nghệ, 1943-1948. Thành Phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất Bản Tác Phẩm Mới,
Hội Nhà Văn Việt Nam, 1985, tr. 110.
[1] Lê Trọng Nghĩa, “Các Cuộc Tiếp Xúc….”, đã dẫn, tr. 9
[1] - như trên -, tr. 4.
[1] NhàXuất Bản Sự Thật, 1975, tr. 61.
[1] Đỗ Sâm, “Vai Trò Quần Chúng Trong Cuộc Biểu Tình Ngày
17/8/1945 Tại Hà Nội”, trong Tạp Chí Xưa & Nay, Số 412, Tháng 9 – 2012,
tr. 4.
[1] - như trên - tr. 5.
[1] - như trên - tr. 6.
[1] Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên, đã dẫn, tr. 47-48.
[1] Xin xem: Nhạc Sĩ Tô Hải, Hồi Ký của Một Thằng Hèn. Falls Church, VA:
Nhà Xuất Bản Tiếng Quê Hương, 2009 và trang mạng riêng của ông, tuần ký
17.
[1] Trần Thanh Hiệp, Việt Nam Trên Đường Đi Tới Tương Lai Dân Chủ Hóa:
Thời Đại Mới, Con Người Mới, Tư Tưởng Mới, Xã Hội Mới. Paris: Tủ
Sách Thái Bình Dương, 2012, tr. 15 - 16.
[1] Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu, 1939-1975 (Tập A: 1939-1946).
Houston, TX, 1996, tr. 243.
[1] Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ, tr. 280.
[1] Bùi Nhung, Thối Nát. Saigon: Năm Ất Tỵ. Tái bản tại Hoa
Kỳ, Houston, TX: Xuân Thu, 1976., tr. 56.
[1] “Đêm 17, trong khi cán bộ lãnh đạo họp ở Dịch Vọng, quần chúng
nội thành, có thanh niên, tự vệ cơ sở VM… đã chủ động xông vào và làm
chủ các báo Tin Mới, Đông Phát… cho đăng lại lời hiệu triệu của VM và
bản tường thuật khẳng định việc ra công khai và dành thượng thế của VM ở
Hà Nội”. Lê Trọng Nghĩa, “Các Cuộc Tiếp Xúc…”, đã dẫn, Chú thích
số 11, tr. 6
[1] Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ, tr. 280-281.
[1] Chỉ Hoàng Xuân Hãn, lúc đó còn ở Hà Nội coi như Đại Diện Chính
Phủ.
[1] -như trên—tr. 291.
[1] -như trên-, tr. 282.
[1] -như trên-, tr. 283
[1] Hoàng Văn Đào, Lich Sử Đấu Tranh Cận Đại 1927-1954: Việt Nam Quốc
Dân Đảng. Saigon, 1964. Garden Grove, CA: Tân Việt tái bản tại Hoa Kỳ,
2006, tr. 210. Nguyễn Xuân Tiếu còn có tên là Nguyễn Cao Kha. Ông
thành lập Đại Việt Quốc Gia Xã Hội Đảng từ năm 1936 và đến tháng 2 là
Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương của Đại Việt Quốc Gia Liên Minh.
Ủy Ban này gồm có Nguyễn Tường Long, Trương Tử Anh, Ngô Thúc Địch, Bùi
Như Uyên, Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, Nhượng Tống, Nguyễn Đăng
Đệ, Nguyễn Xuân Dương tức Lạc Long. Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu,
Tập III, Nhân Vật Chí. Hoston, TX: Văn Hóa, 1997, tr. 413.
[1] Nguyễn Khắc Ngữ, Đại Cương vền Các Đảng Phái Chính Trị Việt Nam.
Montréal: Tủ Sách Nghiên Cứu Sử Địa, 1989, tr. 40.
[1] Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ, đã dẫn, tr. 276-277.
[1] -như trên-, tr. 280-281
[1] Hoàng Văn Đào, tr. 211.
[1] Đoàn Thêm, Hai Mươi Năm Qua, 1945-1964, Việc Từng Ngày, tr.11.
[1] Hoàng Văn Đào, tr. 213-214.
[1] -nt-, tr. 215-216.
[1] Hoàng Tường, Việt Nam Đấu Tranh, 1930-54. Westminster,
California: Văn Khoa Publishing House, 1987, tr. 67-68.
[1] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam Một Thế Kỷ Qua, Hồi Ký Cuốn Một
1916-1946. Santa Ana, CA: Nhà Xuất Bản Thách Ngữ, 1998, tr. 172.
[1] như trên.
[1] Phạm Hồng Tung, Nội Các Trần Trọng Kim, Bản Chất, Vai trò và Vị Trí
Lịch Sử. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, 2009, tr.
187.