Tuesday, November 8, 2022
Saturday, November 5, 2022
Phóng Sự Lễ Tri Ân Đồng Hương Vận Động Tù Nhân Chính Trị Đươc Thả Tái Định Cư USA
Friday, November 4, 2022
BNG : MƯU KẾ CỦA MỸ LẬT ĐỔ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM 1963 «VN.63 #1»
Henri de Turenne
Vietnam-Ngo Dinh Nhu:" l'affaire bouddhiste et l'affaire des étudiants ont été montées de toutes pieces et répercutées de facon orchestrée et puissante pour intoxiquer l'opinion interieure comme l'opinion internationale contre le gouvernement du Sud Vietnam parce que ce gouvernement combat le communisme et parce qu'il refuse d'être un gouvernement puppet".1963 French TV.
Lodge hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đào Văn
Cali Today News – Bài viết trước theo Tướng Westmoreland:”… tôi không bao giờ được quyền đế cắt đứt con đường này (HCM) dù chúng tôi dư sức làm điều đó, vì con đường này là mạch sống của địch quân và việc cắt đứt con đường này sẽ giảm thiểu các chiến lược của chúng tôi rất nhiều”.«Calitoday 27.8.2022» . Vậy mục tiêu CHIẾN LƯỢC của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là gì? Để trả lời, loạt bài này , người viết sẽ dựa vào các tài liệu liên quan đến chiến tranh Việt Nam đã được Văn khố Quốc gia giải mật (NARA) thuộc chính phủ Kennedy, phổ biến trên thư viện online của BNG/FRUS, cộng với tài liệu của cơ quan CIA giải mật và phổ biến từ năm 2015 -2019 liên quan đến cuộc chiến Việt Nam để rộng đường dư luận.
✱ TBT đảng Khrushchev lên tiếng kêu gọi phát động chiến tranh giải phóng để chống lại đế quốc Mỹ
Trong cuộc chiến vừa qua, quân và dân miền Nam Việt Nam không thua vì thiếu tinh thần và khả năng chiến đấu, mà thua vì Mỹ đã dùng chiến tranh Việt nam để chia rẽ khối cộng sản, theo Asian Affairs: ” làm rạn nứt quan hệ giữa Liên Xô và Trung Cộng” –“Trong suốt thập niên 1960, sự cay đắng của mối thù Trung-Xô không có khả năng hòa giải đã sớm là yếu tố quan trọng khiến cho Hoa Kỳ quyết định can thiệp quân sự vào Việt Nam – the bitterness of the Sino-Soviet feud and the unlikelihood of early reconciliation constituted an important factor in the US decision to intervene militarily in Vietnam”.–Asian Affairs: An American Review,Volume 6, 1978: Vietnam and the Sino-Soviet Rival.
Vì vậy nhằm thực hiện mục tiêu ” chiến lược ” để chống Liên Xô, Mỹ đã viện nhiều lý do để lật đổ nền Đệ Nhất VNCH (1963) để hoàn thành mục tiêu… vì Ông “ Diem said he wanted no U. S. combat troops for any mission.”«Calitoday 27.9.2022». Và 12 năm sau, 1975 nền đệ Nhị VNCH bị hy sinh cũng vì mục tiêu ” làm rạn nứt quan hệ giữa Liên Xô và Trung Cộng”…
Năm 1960, tại đại hội đảng lần thứ 81 tại Moscow, theo tổ chức Marxists Org, TBT đảng Khrushchev lên tiếng kêu gọi phát động chiến tranh giải phóng để chống lại đế quốc Mỹ, đồng thời thông báo ” Một phong trào dân tộc giải phóng, nhằm trực tiếp chống lại đế quốc Mỹ và những kẻ làm tay sai của chúng, đang phát triển ở Nam Việt Nam và Lào -A national-democratic movement, directed against the U.S. imperialists and their flunkeys, is developing in South Vietnam and Laos” . Tuyên bố của TBT Khrushchev 1960, phổ biến trên Marxists Org: Statement Of 81 Communist And Workers Parties Meeting In Moscow, Ussr 1960 – Sau đó tại Việt Nam, Mặt Trận DTGPMNVN ra đời vào ngày 20.12.1960.
✱ Mỹ dùng miền Nam Việt Nam thay vì Lào làm nơi chống lại chủ nghĩa cộng sản ở châu Á
Theo BNG – Cũng trong năm 1961, về chính sách đối ngoại của TT Kennedy: “Vào tháng 6 năm 1961 tại Hội nghị thượng đỉnh Vienna với Thủ tướng Liên Xô Nikita Khrushchev, Kennedy không chuẩn bị trước và dường như bị lép vế. Tiếp theo, các tuyên bố cứng rắn của Kennedy về Liên Xô ở Berlin không cải thiện được tình hình — Ngược lại Liên Xô đã cho xây dựng Bức tường Berlin. Cuối cùng, quyết định của ông không vạch ra đường lối chống lại chủ nghĩa cộng sản ở Lào, như Chính quyền Eisenhower đã thúc giục, trái lại dùng miền Nam Việt Nam làm nơi chống lại chủ nghĩa cộng sản ở châu Á – Finally, his decision not to draw the line against communism in Laos, as the Eisenhower Administration had urged, left South Vietnam as the place to fight communism in Asia”. Theo BNG History State Gov: Kennedy’s Foreign Policy
✱ Mỹ ngừng không gây áp lực đối với Diệm về việc thi hành CIP từ tháng 5 năm 1961.
Năm 1961 về phía Mỹ, nhằm chống lại Liên xô qua chiến tranh giải phóng, ngay sau khi nhậm chức vào tháng 1.1961, TT Kennedy phát động chiến tranh chống nổi dậy, chống giải phóng qua chính sách mang tên – Counter Insurgency Progam / CIP , nhưng để thi hành CIP, Mỹ muốn mang quân đội Mỹ đến trực tiếp tham chiến tại Việt Nam – Theo NARA – Chính phủ Đê I VNCH từ chối không cho quân đội Mỹ vào tham chiến tại Việt Nam «Calitoday 27.8.2022».
Theo tài liệu Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers) được phổ biến trên NARA online. Từ tháng 5.1961 đến tháng 11.1963, tức khoảng thời gian 30 tháng TT Diệm không chấp nhận thi hành chương trình CIP do Mỹ đề xướng, vì trong đó buộc phải chấp thuận cho quân đội Mỹ vào Việt Nam tham gia cuộc chiến -“When Diem talked of his worries about U.S . policy in Laos, Johnson, obviously acting on instructions, raised the possibility of stationing American troops in Vietnam or of a bilateral treaty. But Diem wanted neither at that time”. Vì thế ” Các cuộc đàm phán với Diệm (về CIP) đã kết thúc vào tháng 5 (1961), không phải vì vấn đề đã được giải quyết, mà vì Mỹ quyết định ngừng một thời gian không gây áp lực đối với Diệm – Negotiations with Diem came to an end in May, (1961) not because the issues had been resolved, but because the U. S decided to forget trying to pressure Diem for a while”. Và vì vậy tổng thống ” Kennedy không còn có cơ hội để xem xét lại quyết định của mình về việc gửi quân đội tham chiến”– Kennedy never had occasion to reconsider his decision on combat troops (Theo NARA trang 5/197)- và không có lý do để xem xét lời khuyên của Galbraith về việc loại bỏ Diệm cho đến cuối năm 1963 – and no urgent reason to consider Galbraith’s advice on getting rid of Diem until late 1963″ – Theo NARA- Pentagon-Papers-Part-IV-B-1, trang 10/197: …getting rid of Diem until late 1963.pdf.
✱ France TV/NĐ Nhu: Ông Diệm từ chối làm chính phủ bù nhìn
Theo phim tài liệu có tên “ Histoire du Vietnam Henri de Turenne” của Pháp – Vào tháng 10.1963, trên truyền hình Pháp ông Ngô Đình Nhu lên tiếng cáo buộc Mỹ “dàn dựng” (de facon orchestrée) nhằm tạo ra “lý do” để chống chính quyền Ngô Đình Diệm: ” Vụ Phật giáo và vụ sinh viên bị thổi phồng đã được dàn dựng (de facon orchestrée) và loan truyền rộng rãi để đầu độc dư luận trong nước và quốc tế nhằm chống lại chính phủ miền Nam Việt Nam, … vì Ông ta từ chối làm chính phủ bù nhìn (et parce qu’il refuse d’être un gouvernement puppet” ) . Kèm trích đoạn phim tài liệu TV Pháp phỏng vấn ông NĐ.Nhu: …refuse d’être un gouvernement puppe .
Trong quá khứ báo chí Việt Nam đã bàn nhiều đến vấn đề “hòa giải Nam – Bắc 1963”, phần sau người viết tóm lược tài liệu từ phía Mỹ. Gồm tài liệu của Hội Đồng An Ninh quốc gia, NARA giải mật được phổ biến trên thư viện online của Bộ Ngoại Giao/ FRUS, và tài liệu của cơ quan CIA giải mật công bố năm 2016 về sự kiện này, nhưng trước hết xin lược qua tài liệu của cơ quan CIA và báo chí tiếng Việt liên quan đến tiêu đề.
✱ Ông Ngô Đình Nhu bí mật gặp ông Phạm Hùng ở khu rừng Tánh Linh
Theo trang web Việt Thục Ông Cao Xuân Vỹ kể Việc Ông Ngô Đình Nhu Bí Mật Gặp Ông Phạm Hùng Ở Khu Rừng Tánh Linh, Bình Tuy
Hỏi: Khi ông cùng ông Nhu đi gặp Phạm Hùng ở Bình Tuy, ông Nhu có cho ông biết hai người họ bàn chuyện gì không?
Đáp: Lúc ấy thì không. Chỉ biết chúng tôi cùng đến Quận Tánh Linh ở đây có một vùng do Cộng quân kiểm soát. Ban đầu cứ tưởng đi săn cọp như mọi khi. Nhưng đến nơi ông Nhu bảo chúng tôi ở ngoài, còn ông đi về phía trước độ vài trăm mét. Có Phạm Hùng chờ ở đó. Sau này về nhà tôi cũng không tiện hỏi ông Nhu. Nhưng qua những gì ông tự ý nói ra vào một lúc nào đó thì, nội dung câu chuyện trên một tiếng đồng hồ, gồm nhiều điều cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Có một điều mà phía họ rất quan ngại, nếu không bảo là sợ, rất sợ chương trình Ấp Chiến Lược. Họ yêu cầu cho biết ai là người chủ trương và mục đích để làm gì? Ông Nhu trả lời: đó chỉ là một chủ trương của chính phủ nhằm bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, ngăn ngừa sự xâm nhập, phá phách của du kích các ông… Các ông bảo cán bộ đừng tìm cách đánh phá làng xã, thì chúng tôi sẽ bỏ luật 10/59. Cán bộ các ông có thể về sống với dân lành tại các ấp…
Về các điều kiện để hiệp thương thì nhiều lần Tổng Thống Diệm đã nói, phải có 6 giai đoạn:
– Bắt đầu bằng việc cho dân hai miền trao đổi thư tín tự do.
– Rồi cho dân qua lại tự do
– Thứ 3 là cho dân hai bên được tự do chọn đinh cư sang bên kia nếu muốn
– Thứ 4 mới đến giai đoạn trao đổi kinh tế. Ví dụ miền Nam đổi gạo lấy than đá của miền Bắc chẳng hạn.
– Qua được các giai đoạn đó rồi mới tiến tới hiệp thương.
– Và sau cùng là tổng tuyển cử.
Có lần ông Nhu tính với chúng tôi: Ông dự đoán rằng, nếu cho dân tự do chọn nơi định cư, thì căn cứ theo tình trạng về tự do dân chủ tồi tệ và kinh tế kiệt quệ của miền Bắc lúc ấy, sẽ có khoảng 3 triệu người dân sẽ dần dần vào định cư ở miền Nam. Vì vậy “mình” phải chuẩn bị đất cho dân. Ông cũng tính rằng hiện dân số miền Bắc có tới 23 triệu, trong khi dân số miền Nam chỉ có 17 triệu. Nếu có được 3 triệu dân Bắc vào định cư ở miền Nam thì dân số 2 bên sẽ cân bằng. Bầu cử tự do, với sự giám sát của Quốc Tế thì chắc mình sẽ thắng.
Hỏi: Lần ông tháp tùng ông Nhu đi dự lễ đăng quang của quốc vương Ma-rốc năm 1962, ông có cho biết là sau đó các ông đến Paris gặp ông Pinay, đại diện Tổng Thống Charles De Gaulle, bàn chuyện hiệp thương với ông Hồ. Lúc ấy có mặt giáo sư Bửu Hội không?
Đáp: Dĩ nhiên là có. Vì
Giáo sư Bửu Hội là đại sứ của VNCH ở Ma-rốc, và là bạn học với ông Nhu ở
bên Pháp. Ông Bửu Hội lại từng là cố vấn cho Hồ Chí Minh. Nên trong
việc này, có thể nói vai trò của ông Bửu Hội cũng quan trọng không kém
ông Nhu. Ông Nhu và chúng tôi ở khách sạn Grillon cả tháng. Cuộc tiếp
xúc xảy ra nhiều lần mà hầu như lần nào cũng có sự hiện diện của giáo sư
Bửu Hội. Ông Nhu cho biết lúc ấy ông Hồ Chí Minh đã nhờ ông Jean
Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle giúp. Ông Hồ biết là ông De Gaulle
đang có chủ trương trung lập Đông Dương, lại hận Mỹ đã “hất cẳng” Pháp.
Ông Hồ nhờ Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle can thiệp để tiếp xúc với
Sài Gòn. Tổng Thống Pháp rất sốt sắng trong việc này. Sau chuyến đi này
ít tháng thì xảy ra vụ ông Nhu “đi săn cọp” ở Tánh Linh”.[1]✱ CIA: Ông Nhu muốn giảm số lượng cố vấn Mỹ tại Việt Nam (3.1963)
Theo bản văn trên thư viện online của CIA thiết lập ngày 11 tháng 3 năm
1963, và phổ biến trên thư viện online CIA ngày 14.12.2016.
“Tư tưởng chống Mỹ của Ngô Đình Nhu, em trai Tổng thống Diệm và là cố vấn chính trị của Tổng thống Diệm, trở nên sắc bén.
Gần đây, Nhu được cho là đã tuyên bố rằng quân đội Nam Việt Nam ngày càng chịu ảnh hưởng bởi các cố vấn Mỹ và chủ yếu là thực hiện chính sách của Mỹ-South Vietnam’s army has come increasingly under the influence of American advisers and is carrying out primarily American policy..”[ Bị xóa 1 dòng ] vì số lượng lớn người Mỹ ở miền Nam Việt Nam và đất nước lệ thuộc vào viện trợ của Mỹ-and the country’s dependence on American aid đã tạo cho Cộng sản một lợi thế tuyên truyền-provided the Communists a propaganda advantage, cho nên tất cả những người Mỹ không cần thiết phải được rút đi -all Americans not absolutely essential should be withdrawn.
Nhu thường xuyên nhắc lại những lời chỉ trích gay gắt chính phủ, đặc biệt là từ phía báo chí Mỹ. Ông ta và có thể cả Diệm, vẫn nghi ngờ rằng người Mỹ đã tham gia vào âm mưu đảo chính năm 1960-He, and possibly Diem as well, still suspect that Americans were involved in the 1960 coup attempt và vào vụ đánh bom dinh độc lập năm 1962-and the 1962 palace bombing, và rằng một số quân đội chịu ảnh hưởng của Mỹ có thể một lần nữa âm mưu lật đổ chế độ hiện tại-and that an American influenced army may again attempt to oust the present regime..
Nhu được cho rằng chính phủ Diệm nên đặt sức mạnh của mình vào các ấp chiến lược và các lực lượng bán quân sự – chẳng hạn như Thanh niên Cộng hòa có vũ trang mà Nhu đứng đầu – hơn là dựa vào quân đội-such as the armed Republican Youth which Nhu heads-rather than on the army. [ bị xóa nhiều chữ] ông ta đang thúc đẩy các chính sách được hoạch định để đảm bảo cho mình một vị trí ưu thế cuối cùng.[bị xóa một số chữ] ” [2]
✱ CIA và giải pháp “Nhu – Hồ” 1963 –The Possibility of a GVN Deal with North Vietnam, ( bản văn thiết lập ngày 26.09.1963 – chấp thuận cho công bố ngày 08.11.2004, phổ biến trên thư viện online ngày 16.12.2016)
①. Chúng tôi đã nhận được một số báo cáo gần đây về khả năng có sự thương thảo giữa Chính phủ Việt Nam với miền Bắc Việt Nam:
- Ủy viên ICC Ba Lan Manelli đã trình bày với Nhu về đề xuất do Hồ Chí Minh đưa ra rằng Việt Cộng sẽ ngừng chiến- Polish ICC Commissioner Manelli has reportedly presented a Ho Chi Minh proposal to Nhu for a de facto cease-fire by the Viet Cong: Nhu được cho là đang nghiên cứu đề xuất này, tin rằng sự việc này có thể sẽ tiến hành trong vòng ba đến bốn tháng-Nhu is allegedly studying this proposal, believing that it might become relevant in three to four months..
b- [ 1-1/2 dòng bị xóa -chưa giải
mật] đã nói với Đại sứ Lodge rằng Nhu luôn nghĩ đến việc đàm phán với
miền Bắc và tự tin rằng bản thân ông ta đủ khéo léo để đem lại thành
công–has told Ambassador Lodge that NHU has always thought of
negotiating with the North and believes himself clever enough to bring
it off..
c- [ 1-1/2 dòng bị xóa ] đã cảnh báo các quan chức Mỹ tại Sài Gòn về
các cuộc trò chuyện giữa Manelli và Nhu về giải pháp hòa giải với miền
Bắc Việt Nam.
- Nhu đã thừa nhận với Trạm trưởng của chúng tôi ở Sài Gòn, rằng ông ta đã nói chuyện với Manelli, và ông ta (Nhu) đã từng tiếp xúc với các cán bộ Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam-and that he (Nhu) has been in contact for some time with Viet Cong agents in South Vietnam, và rằng mục đích của ông ta không phải để thăm dò về một thỏa hiệp với Miền Bắc nhưng để thuyết phục những cán bộ cao cấp của Việt Cộng ở Miền Nam xa rời chủ nghĩa Cộng sản.
- [bị xóa một số chữ ] Ông ta vẫn chưa sẵn sàng làm như vậy – về kênh đối thoại giữa Nhu-Hồ -He is not already doing so-as a Nhu-Ho communication link..
- Tổng thống de Gaulle đưa ra sáng kiến liên quan đến Việt Nam nơi có quan hệ lịch sử lâu dài. Phía Pháp quan tâm đến khả năng về giải pháp “trung lập ” tại đây-French interest in a possible “neutralized” solution there.
②. Mặc dù chúng tôi không cảm thấy có nguy cơ lớn về một giải pháp nào đó của Chính phủ Việt Nam sắp xảy ra dưới một hình thức nào ðó với miền Bắc, nhýng chúng tôi tin có khả năng sẽ xảy ra một giải pháp như vậy, vào một thời điểm nào đó trong tương lai gần, vì vậy Hoa Kỳ cần cảnh giác và quan tâm đặc biệt – to warrant special US watchfulness and concern. Theo quan điểm của chúng tôi, vấn đề không phải là việc Diệm hay Nhu “đầu quân ” cho Hồ, hoặc đầu hàng nhằm đưa miền Nam dưới sự thống trị của cộng sản-or wittingly surrendering their country to communist domination.. Thay vào đó, mối nguy hiểm nằm ở chỗ Diệm và Nhu coi lợi ích riêng của họ là lợi ích của đất nước họ-Instead, the dangers lie in the fact that Diem and Nhu consider their own interests to be those of their country, và nghĩ rằng họ có thể vận dụng thành công về một giải pháp chính trị với Hà Nội. Vì vậy, vào một thời điểm nào đó, họ sẽ tìm cách thỏa hiệp với miền Bắc, vì họ tin rằng giải pháp hòa giải với những người cùng một dân tộc vẫn tốt hơn là cúi đầu trước áp lực của ngoại bang (Mỹ)-they might at some juncture seek to work out a modus vivendi with the North, out of belief that a deal with kindred peoples was better than submitting to foreign (US) pressures.
③. Cơ hội mà Diệm và Nhu thực sự đi tìm kiếm một giải pháp hòa giải nào đó với miền Bắc có thể sẽ tăng lên nếu họ cảm thấy rằng các áp lực của Hoa Kỳ đã trở nên quyết liệt đến mức đẩy họ vào góc tường-if they felt that US pressures had become so intense that they were backed into a corner. Một khi họ cảm thấy những lựa chọn thay thế duy nhất là dấu chấm hết cho vị thế của họ, hoặc phải chấp nhận một cách nhục nhã dưới sự lấn át của Hoa Kỳ trong đường hướng chính trị ở miền Nam Việt Nam, thời họ có thể sẽ chọn “mở đường ra phía Bắc.”- or humiliating acceptance of a much greater US voice in the political direction of South Vietnam, they might opt for an “opening to the North.” Thành công của họ trong việc thực hiện một thỏa hiệp như vậy phần lớn sẽ phụ thuộc vào phương pháp và thời gian của họ. Nếu biết rằng Diệm và Nhu thực sự có ý định tìm kiếm một giải pháp nào đó với miền Bắc-If it became known that Diem and Nhu seriously intended to seek an accommodation with the North. điều này có thể dẫn đến cuộc đảo chính của một số nhà lãnh đạo quân sự Nam Việt Nam-this might well precipitate a coup attempt by certain South Vietnamese military leaders. Tuy nhiên, nếu Diệm và Nhu có thể chứng tỏ rằng các thỏa hiệp của họ với miền Bắc là nhằm phục vụ lợi ích của Nam Việt Nam, và không gây nguy hiểm cho các lợi ích của Nam Việt Nam, thì họ có thể thành công-However, if Diem and Nhu were able to make it appear that their dealings with the North were intended to serve, and not endanger, South Vietnamese interests, they might then succeed. Trong bất kỳ trường hợp nào, có thể có sự hưởng ứng đáng kể từ phía quần chúng đối với “giải pháp” Bắc-Nam, một khi tình hình quân sự và chính trị giảm sút mạnh mẽ so với mức hiện tại. there might be considerable public acquiescence in a North-South “solution” in the event that the military and political situations had declined sharply from present levels.” [3]
✱ CIA : Về khả năng hai miền Nam-Bắc hòa giải ( bản văn thiết lập ngày 26.09.1963 – chấp thuận cho công bố ngày 08.11.2004, phổ biến trên thư viện online ngày 16.12.2016)
➊.Tóm tắt. Thông tin, tin đồn và cuộc phỏng vấn của Joseph Alsop trên tờ Washington Post ngày 18 tháng 9, cho thấy có dấu hiệu Chính phủ Việt Nam, VNDCCH và Pháp có thể đã tham gia vào khả năng tìm kiếm sự hợp tác giữa hai miền Bắc-Nam. Nhiều cuộc thăm dò cho thấy rất khó có khả năng về sự thống nhất (hai miền) sắp xảy ra, nhưng các điều kiện thống nhất giữa hai miền, phía Hà Nội luôn đòi hỏi sự qui thuận từ phía Chính phủ Việt Nam và giao miền Nam Việt Nam cho miền Bắc Cộng sản. Nên việc thống nhất khó có khả năng thực hiện, chúng tôi cho rằng phía Chính phủ Việt Nam hiện đang thực sự quan tâm đến một số phương án kém quan trọng hơn-the GVN is now seriously interested in some form of rapprochement of lesser dimensions than reunification , như là việc ngừng bắn tạm thời, ngừng bắn chính thức, hoặc một số biến thể của việc trung lập hóa-de facto ceasefire, formal ceasefire, or some variant of neutralization. Tuy nhiên, hiện có dấu hiệu gia đình họ Ngô quan tâm đến mối quan hệ hợp tác nên sự việc vẫn cần được tiếp tục theo dõi chặt chẽ. “…”
➋. Bài báo của Alsop. Dựa trên cơ sở thông tin có sẵn về sự kiện do Alsop nêu trên, về cơ bản có vẻ như đúng, nhưng kết luận của anh ta nên được xem xét về những điều mà anh ta không đề cập đến. Một chuỗi sự kiện có phần giống với một số sự kiện mà Alsop kể lại xảy ra vào năm ngoái: Vào tháng 3 năm 1962, Hồ Chí Minh cho biết trong một cuộc phỏng vấn với Wilfred Burchett rằng ông ta quan tâm đến một nền hòa bình, một giải pháp cho vấn đề Việt Nam. (Cần lưu ý rằng chuyến thăm cuối cùng được xác nhận của Burchett tới miền Bắc Việt Nam xảy ra vào tháng 3 năm 1962. Do đó, có thể Alsop đề cập đến chuyến thăm năm 1962. Không phải chuyến viếng thăm gần đây.) Vào tháng 9 năm 1962 [ bị xóa một số chữ], Hồ đã nói rằng ông ta đã chuẩn bị để mở rộng vòng tay hữu nghị với Diệm (“một người yêu nước”)-Ho had said he was prepared to extend the hand of friendship to Diem (“a patriot”) và rằng miền Bắc và miền Nam có thể bắt đầu một số bước hướng tới một thỏa thuận giao thương giữa hai bên, bao gồm cả việc trao đổi các thành viên của gia đình bị ly tán- including an exchange of members of divided Families. Tuy nhiên, có một sự khác biệt đáng kể trong phản ứng của Chính phủ Việt Nam đối với tình hình năm 1962 và diễn biến hiện tại. Mặc dù tin đồn về một số hình thức liên lạc giữa Nhu và Việt Cộng đã tồn tại trong nhiều năm, nhưng tin tức về sự liên hệ như vậy đã bị phủ nhận. Tuy nhiên, bây giờ Nhu thừa nhận việc liên hệ với miền Bắc và đã đưa ra những gợi ý công khai rằng Chính phủ Việt Nam sẽ không nhất thiết từ chối xem xét các đề xuất từ phía Hà Nội-Nhu acknowledges contacts with the North and has dropped transparent hints that the GVN would not necessarily refuse to consider overtures from Hanoi.
➌. Mặc dù không có tin đồn và sự suy đoán nào gần đây liên quan đến sự thương lượng giữa VNDCCH và Chính phủ Việt Nam được nêu ra một cách chi tiết, chúng tôi tin rằng các yếu tố chính liên quan đến bất kỳ sự hòa giải nào sẽ bao gồm các điểm sau:
- Ngô Đình Nhu. Nhu là một người đàn ông tài giỏi, sắc sảo và nhiều tham vọng, với sự quan tâm tuyệt đối trong việc duy trì quyền lực chính trị của mình và tất cả những gì cần thiết để thực hiện điều này. Ông ta có ác cảm sâu sắc với chế độ Hà Nội, được củng cố bởi thực tế là Việt Minh có thể đã tra tấn và giết chết người anh cả của ông ta. Tuy nhiên, sẽ hoàn toàn phù hợp với tính cách của Nhu và Diệm – để tìm kiếm một số phương án hầu dễ bề xoay sở khi phải đối mặt với Hoa Kỳ để tránh khỏi bị bó buộc giữa hai sự lựa chọn không thể chấp nhận: hoặc là không đầu hàng trước các đòi hỏi của Hoa Kỳ -abject surrender to US demands hoặc mất tất cả quyền lực chính trị-or a loss of all political power. Chính trong bối cảnh này, có khả năng họ Ngô sẽ thương thảo với miền Bắc -It is within this context that the likelihood of Ngo family dealings with North Vietnam should be assessed.
Chúng tôi tin rằng nếu Nhu và Diệm cảm thấy họ sớm phải đối mặt với những lựa chọn mang tính cực đoan như vậy, hoặc họ có thể sẽ lựa chọn thực hiện một giải pháp nào đó với Hà Nội. Diệm sẽ ít có khả năng chấp nhận thỏa hiệp với Hà Nội hơn so với em trai của mình, nhưng hoàn cảnh bây giờ đã thuận lợi hơn trước để Nhu theo đuổi về đường lối này. “…” Nhu không có khả năng coi việc thống nhất là giải pháp thay thế có thể chấp nhận được-Nhu would not be likely to consider unification an acceptable alternative. Tuy nhiên, nếu Nhà Ngô tiến hành tìm kiếm sự đồng thuận với VNDCCH qua các điều kiện ít quan trọng hơn là điều kiện thống nhất (hai miền)- ví dụ như về một lệnh ngừng bắn – họ có thể thực hiện nghiêm túc hơn là đòi hỏi của VNDCCH phải loại bỏ các lực lượng Hoa Kỳ.
- VNDCCH.Mặc dù những tiến bộ gần đây của miền Nam
Việt Nam trong việc tiến hành cuộc chiến chống Việt Cộng đã khiến Hà Nội
phải mở rộng thời gian biểu của mình, nhưng không có bằng chứng nào cho
thấy những người Cộng sản tự tin vào chiến thắng cuối cùng. Vì
vậy, Hà Nội vẫn chưa cảm thấy có bất kỳ áp lực nào trong việc t́m kiếm
một thỏa hiệp với Chính phủ Việt Nam về bất kỳ điều khoản nào ngoại
trừ các điều kiện của chính họ-Thus, Hanoi is not yet in a position
where it feels any pressure to seek a rapprochement with the GVN on any
but its own terms. Cho đến nay liên quan đến vấn đề thống nhất, các điều
kiện tối thiểu của VNDCCH mà Hồ thường xuyên nêu ra – bao gồm việc chấm
dứt và rút mọi hỗ trợ quân sự của Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam Việt Nam,
và thành lập một chính phủ liên hiệp quốc gia ở miền Nam Việt Nam gồm
tất cả các thành phần chính trị, bao gồm cả Việt Cộng. Những điều kiện
này sẽ không thể chấp nhận được đối với Diệm và Nhu-These conditions
would be patently unacceptable to Diem and Nhu.
- Người Pháp. Bất chấp những căng thẳng hiện nay trong quan hệ Pháp-Mỹ, khó có khả năng Pháp sẽ thay thế Hoa Kỳ để hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam (ngay cả khi người Pháp cảm thấy có thể đưa ra một đề nghị như vậy, nhưng họ có thể là không). Trên thực tế, Pháp không có khả năng đưa ra bất kỳ đề nghị viện trợ nào đủ cơ bản và cụ thể để Nhu cảm thấy lạc quan về việc gạt Mỹ sang một bên-In fact, France is not likely to make any aid offer sufficiently substantial and concrete for Nhu to feel sanguine about casting the US aside và quay sang đàm phán với VNDCCH dưới sự hỗ trợ của Pháp-and turning toward negotiations with the DRV under an umbrella of French support. On the other”. “…”
“Một dấu hiệu cho thấy sự ủng hộ của Pháp đối với Trần Văn Hữu – một cựu thủ tướng bù nhìn của Pháp dưới thời Bảo Đại, hiện đang cư ngụ tại Paris, đang tích cực vận động một giải pháp trung lập cho miền Nam Việt Nam. Thái độ của Pháp đối với Việt Nam được tô điểm bởi sự mong muốn giành lại càng nhiều ảnh hưởng càng tốt ở Đông Dương, và bởi sự không hài lòng khi thấy Mỹ chiếm ưu thế ở Nam Việt Nam và Lào.”…”
- Phản ứng tại miền Nam Việt Nam. Ngay cả khi bản thân ông Nhu dù có đi theo chiều hướng này, ông ta sẽ thấy việc “rao bán” một thỏa hiệp với Hà Nội cho các thành phần lãnh đạo của dân chúng Việt Nam là một vấn đề tế nhị và khó khăn. Trên thực tế, những khó khăn này dường như không thể vượt qua vào thời điểm hiện tại. Nhu không thể mong đợi một cách hợp lý để thực hiện bất kỳ mối quan hệ hợp tác thực sự nào với miền Bắc mà không thông báo ý định của mình cho các tướng lĩnh QLVNCH – và cộng đồng tình báo Hoa Kỳ.[ Bị xóa 3 dòng chưa giải mật] Tuy nhiên, không nên coi thường sự khôn ngoan và kỹ năng thao túng chính trị của Nhu, và nếu theo đuổi một chiến thuật như vậy, dù đúng hay sai, ông ta có thể tin rằng ông ta có thể qua mặt ngay cả các đối thủ quân sự của mình, đặc biệt nếu ông ta có sự cam kết hỗ trợ từ phía người Pháp-particularly if he had some commitment of French assistance..
➍. Cảnh báo trước. Lập
luận trên dựa vào sự giả định rằng Diệm và Nhu, mặc dù hoạt động dưới
nhiều áp lực, về cơ bản vẫn hợp lý-The preceding argument is based on
the assumption that Diem and Nhu, although operating under tremendous
pressures, remain essentially rational.. Một số nhà quan sát, bao gồm cả
Alsop, cảm thấy rằng cả hai anh em Nhà Ngô có thể không còn hợp
lý. Nếu trường hợp này xảy ra, khả năng Nhu nỗ lực tìm kiếm một thỏa
hiệp với Hà Nội phải được đánh giá cao hơn đáng kể so với các điều viết
tại phần trên, vì những nhận định của Nhu về lợi ích của đất nước ông
ta, và mức độ về mối đe dọa của Cộng sản sẽ không còn phải cân nhắc,
rằng có thực tế hay không nữa. Ở một mức độ nào đó, điều tương tự cũng
phải nói về ông Diệm – mặc dù ông ta có nhiều khả năng sẽ rút lui hoàn
toàn khỏi chính trường (ví dụ, vào một tu viện) và để lại mọi quyết định
chính trị cho em trai mình-and leave all political decisions to his
brother.” [4]
Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại Giao đặc trách vùng Đông Á đề xuất các biện pháp
đối phó, và sau là phản ứng của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ về
giải pháp hòa giải “Bắc-Nam” 1963.
(Còn tiếp).
Đào Văn
Nguồn:
[1]- Web Việt Thục, Minh Võ Ông Nhu Bí Mật Gặp Ông Phạm Hùng Ở Rừng Tánh Linh
[2]- Thư viện CIA 11.03.1963, p.10/15: CENTRAL INTELLIGENCE BULLETIN.pdf
[3]-Thư viện CIA 14.9.63: The Possibility of a GVN Deal with North Vietnampdf
[4]-Thư viện CIA 26.9.63:Possible Rapprochement Between North And South Vietnam.pdf
Friday, October 21, 2022
NHỮNG NGƯỜI CHA CAN TRƯỜNG
NGUYỄN DIỄM NGA
Monday, October 17, 2022
NỖI BUỒN MÙA THU
Phạm Tín An Ninh
Có lẽ những chiếc lá mùa Thu đã nhuộm vàng phần lớn thi ca nhân lọai. Và dường như nếu không có mùa Thu thì những cuộc tình sẽ không còn lãng mạn, thế gian này sẽ không có mặt của thi nhân. Ông Văn Cao đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng "Buồn Tàn Thu" để rồi cuộc đời của người Nghệ sĩ tài hoa này cũng tàn theo Giai Phẩm Mùa Thu (trong Nhân Văn Giai Phẩm). Ông mất đi trong cảnh khôn cùng để lại cho đời một kho tàng âm nhạc quí giá, cùng sự thương tiếc ngậm ngùi và bao điều suy ngẫm. "Cây đại thụ" Phạm Duy phỏng theo một bài thơ Tây, phổ bản "Mùa Thu Chết". Ở Việt nam ta, nếu "Con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô" đã làm nên Lưu Trọng Lư, thì bên Tây "Les Feuilles Mortes" đã khắc sâu tên tuổi Jacques Prévert trong lòng những người mê thơ, yêu nhạc.
Riêng cái thằng vừa nhà quê vừa ít chữ như tôi dĩ nhiên không thể nào làm nổi một câu thơ và cũng chẳng mò ra được một nốt nhạc, vậy mà tâm hồn lại rất dễ bị đắm chìm trong những lời thơ tiếng nhạc - đặc biệt có Mùa Thu trong đó. Nhưng trong tất cả những tác phẩm có bóng dáng Mùa Thu trên thế gian này, cái bài làm tôi xúc động nhất, thuộc lòng từ thời tấm bé, không phải là thơ, là nhạc, của Ta hay Tây, mà lại là một bài văn xuôi rất... học trò của ông Thanh Tịnh.
"Hằng năm cứ vào cuối Thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được...
Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương Thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp..."
Không biết ngày ấy ông Thanh Tịnh ở tận nơi đâu, mà sao cái cảnh ngày đầu tiên ông đi học giống tôi như đúc. Tôi cũng được mẹ nắm tay dẫn đi trên con đường làng Phú Hội, cũng vào một buổi sáng có (một chút) sương thu và gió lạnh.
Một năm sau mẹ tôi qua đời, bỏ lại tôi một mình đi trên con đường dài và hẹp đó với bóng dáng yêu dấu của bà. Rồi cũng một năm sau nữa, cha tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh bắt đưa ra Liên Khu Năm làm "Công tác xóa nạn mù chữ". Tôi trở thành thằng bé mồ côi, phải về ở với ông bà Nội. Mỗi ngày tôi vẫn đi trên con đường làng ấy, nhưng bây giờ tôi đến trường cùng một đám anh em bà con trạc tuổi. Sau này, trong đám học trò dưới mái trường làng ngày ấy có vài thằng lên núi đi làm... kách mệnh, có đứa sớm thành liệt sĩ; nhiều đứa làm quan làm lính Cộng Hòa, cũng có lắm thằng đuợc Tổ Quốc Ghi Ơn; đám còn lại là nông dân năm tháng soi mặt với ruộng đồng, nhưng cũng có thằng trở thành Giáo sư, Bác sĩ, lấy vợ rồi đóng đô luôn ở chốn thị thành, chỉ lâu lâu dắt díu nhau về thăm làng cũ.
Vậy mà cái tình đồng môn của thời thơ ấu đó lại keo sơn gắn bó đến không ngờ. Mấy ông nông dân có con cháu đi lính, được mấy ông bạn nhà binh nhận về đơn vị chở che, xuống Thành phố đi học có mấy ông bạn thầy giáo hướng dẫn lo trường lo lớp, nơi ăn chốn ở; đau bệnh thì có mấy thằng Bác sĩ chăm sóc thuốc men, xin vào nhà thuơng miễn phí. Mấy thằng làm quan lâu lâu về quê chở cả đám nông dân ra Thành phố tập tễnh ăn chơi cho biết cái sự đời. Quân với Dân còn hơn cả cá với nước.
Rồi đùng một cái, tháng 4/75, bão tố bất ngờ ập xuống, kéo theo cơn lốc đổi đời bi thảm : Mấy ông bạn trên núi nghênh ngang về nắm chính quyền, mấy ông nông dân vốn bao năm an nhàn với đồng áng bây giờ lại được mấy ông bạn chính quyền ưu ái lấy hết ruộng đất đưa vào hợp tác xã, giúp những thằng bạn cũ sớm trở thành vô sản, hầu cùng nhau "Tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc" lên thế giới đại đồng (!). Mấy ông lính, ông Thầy, ông Bác sĩ tự dưng trở thành "Những con nai vàng ngơ ngác", cuốn gói về quê nương náu để đợi chờ số phận, lại được mấy ông bạn nông dân ngày trước cho gạo cho tiền, chí ít cũng đãi đằng được một chầu thịt gà rượu đế, tiễn đồng môn cũ đi vào "Trường cải tạo". Một ít vào trường sơ cấp, trung cấp trong Nam, số còn lại được ưu ái ra trường cao cấp tận vùng núi rừng Việt Bắc.
Sau sáu, tám, rồi mười năm, thằng nào còn sống mang tấm thân tàn tạ ra tù, kẻ thì vượt biển, người thì đi diện HO, lưu lạc tha phương, bỏ lại sau lưng con đường quê, ngôi trường làng cũ với biết bao kỷ niệm êm đềm. Đất khách gặp nhau, chỉ còn biết vỗ vai an ủi :
Qua cơn mờ mịt binh đao
đứa còn đứa mất ba đào tang thuơng.
Lạc loài trên chính quê hương
thôi thì gió cuốn mười phương cũng đành.
Định cư xong, lo góp tiền gom bạc gởi về cứu đói mấy ông bạn nông dân, bây giờ đã bạc cả mái đầu mà còn trắng cả đôi tay. Còn mấy ông bỏ trường lên núi hồi còn son trẻ bây giờ phục viên về nằm nghỉ mát, mỗi ngày uống trà ngắm mấy cái "Bằng khen", mấy cái huy chương "Dũng sĩ" treo tòn ten trên vách mà ngẫm nghĩ con đường cách mệnh đã bỏ gần cả một đời theo đuổi mà sao cái làng quê của mình vẫn cứ xác xơ và những bạn bè ấu thơ giờ thì đã chết hoặc điêu linh tan tác.
Rồi cũng vào một mùa Thu, từ đất khách tôi về lại quê hương. "Mùa Thu năm ấy tôi ra đi, mùa Thu này nữa tôi... trở về". Khoảng cách giữa hai mùa Thu... vậy mà cũng đã hai mươi năm. Tôi về để tìm lại ngôi mộ của cha tôi được mấy người bạn tù chôn cất sơ sài trên núi bên ngoài trại cải tạo Đá Bàn. Ông đã chết sau hơn một năm bị giam trong trại tù này, cũng vào một ngày cuối Thu ảm đạm. Tôi nhờ người cải táng, đưa ông về nằm bên cạnh mẹ tôi và ông bà nội trong Nghĩa trang gia tộc.
Tôi đi một vòng thăm lại làng xưa. Cái làng Phú Hội của tôi một thời đông vui giàu có như cái tên gọi, bây giờ sao trở nên vắng vẻ điêu tàn. Đám bạn bè cũ bây giờ chẳng còn mấy đứa, thằng chết, kẻ ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời. Hôm nay, tôi lại đi trên con đường làng cũ, vẫn con đường dài và hẹp mà ngày xưa mẹ tôi âu yếm dắt tay tôi tới lớp. Hôm nay cũng có nhiều sương Thu và gió lạnh, tôi đi một mình trơ trọi, chỉ còn đâu đây bóng dáng, tiếng nói tiếng cười của đám bè bạn ngày xưa rì rào trong gió. Tôi chợt nhớ tới bài thơ của một ông bạn già thân thiết :
Tôi về đứng trước ngôi trường cũ
nhìn xuống làng xưa chạnh nỗi niềm
nhấp nhô những mái nhà rêu phủ
thương hải tang điền mấy biến thiên
Tôi về xuôi một dòng sông chảy
con nước vô tình lặng lẽ trôi
hiểu nghĩa cuộc đời đành không thể
hai lần tắm ở một dòng thôi
- Tôi về - có phải sông về biển
sao nghe từng con sóng não nề
như thể bây giờ là cổ tích
tôi về - chỉ gặp lại mình... tôi
Bây giờ nhờ tiền tài trợ của mấy ông tư bản, nên ngôi trường vừa được xây cất lại khang trang. Có lẽ học sinh cũng vừa mới tựu trường, nên cờ xí khẩu hiệu còn đỏ cả sân trường. Cái trường mang tên làng Phú Hội ngày xưa bây giờ đã được đổi tên thành "Trường PTCS Lê văn Tám". Nhìn các em bé sắp hàng vào lớp mà lòng tôi cứ bâng khuâng. Không phải vì vừa mới tìm lại được bóng dáng của mình ngày trước, mà vì thấy thương và tội nghiệp cho các cháu học trò. Không biết mỗi ngày phải học thuộc lòng những bài "Thơ trong tù"của bác, thơ "Khóc ông Lê Nin" của nhà thơ lớn Tố Hữu, có bao nhiêu em đã "Từ ấy trong tôi bừng nắng Hạ, mặt trời chân lý chói qua tim" (thơ T.H), và liệu các em có còn nhớ đuợc cái bài văn xuôi "hằng năm cứ vào cuối Thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc..." hồn nhiên và dễ thương của ông Thanh Tịnh mà thế hệ cha ông ai cũng nằm lòng ? Các em có xót xa khi biết trường của các em mang tên "Anh hùng Lê văn Tám" mà các em được dạy như là một tấm gương, lại là một người không hề có thật, mà chỉ là nhân vật trong phim truyện của đạo diễn Phan Vũ (xem Báo Thế Giới - Hà Nội số 39 (154) ngày 27.09.04 trang 22-23, Website Talawas ngày 11.10.04 / Quang Hùng, đài BBC chương trình ngày 15.10.04)
Rồi mới đây bà Hiệu trưởng Trần Thanh Vân đầy quyền uy (Dưới những ô dù) kéo theo một nhóm thầy cô vây cánh của trường chuyên Lê Quí Đôn nào đó ở "Thành phố mang tên bác" thản nhiên lấy tiền đô la, làm hồ sơ ma nhận cả một đám học trò dốt nát, con cháu của những đại gia và các ngài quan lớn (Trong đó có con trai của đồng chí chánh Thanh tra sở Giáo dục Thành phố) vào ngôi trường chuyên một thời có tiếng.
Tội nghiệp, chẳng lẽ mới lớn lên, các em đã phải học những điều gian dối, và tương lai các em sẽ ra sao với một nền giáo dục và văn hóa "phong bì"?
Cũng may mà các em còn bé và ở tận một vùng quê, nên không biết nhiều về đạo đức của các nhà "Mô phạm", những "Nhất tự vi sư bán tự vi sư" một thời được dân chúng trải chiếu hoa mời ngồi dưới mái đình làng.
Ngoài Hà Nội, có lẽ vì Thành phố Thủ đô trữ tình với mùa Thu và hương hoa sửa, nên ông thầy già trưởng khoa Đỗ Tư Đông "khả kính" ở trường Cao đẳng Truyền Thanh Truyền Hình nhà nước "Lấy điểm gạ tình" một số nữ sinh viên. Thầy chỉ cho điểm cao khi nào trò hoàn thành nhiệm vụ "trả bài" cho thầy trong khách sạn !
Dưới cái tỉnh Bình Phước mới toanh, nên thầy Lê Hoàng Sang, hiệu trưởng trường Lê văn Tám (lại Lê Văn Tám !) cũng vừa làm một điều vô cùng tân tiến : bắt các cô giáo chưa chồng phải uống rượu cùng các quan lớn địa phương, bất kể trưa chiều hay trước giờ lên lớp. Nếu lỡ gọi các quan già bằng "chú" mà không phải bằng "anh" thì bị thầy Hiệu trưởng nạt nộ đòi kỷ luật.
Mới đây trên đài BBC, ông Tạ Phong Tần, cán bộ sở Thuơng Mại Du Lịch Bạc Liêu, sau một khóa được đào tạo tại chức, đã công khai tuyên bố : "Không ít Tiến sĩ, Thạc sĩ là những người biết diễn đạt những điều đơn giản trở thành khó hiểu hoặc không ai hiểu nỗi." (nguyên văn)
Cầu mong cho các em học trò nhỏ ở quê tôi không nghe được mấy cái tin "vui" này đăng đầy trên báo mỗi ngày, để còn thấy mùa Thu trên quê nghèo vẫn còn một chút thơ mộng dễ thương.
Trước khi rời khỏi quê hương, tôi ghé lên Thành phố thăm thằng bạn học cũ, trước tháng 4/75 là một Giáo sư Toán-lý-hóa nổi tiếng của một trường Trung học lớn. Bây giờ ngồi bán thuốc lá ở vỉa hè. Con cái nó cũng đã nghỉ học từ lâu để lăn vào cuộc sống, nên mấy cái bằng Cử nhân toán từ cái thời 63-64 chỉ còn cùng để... gói thuốc lá. Bỗng dưng tôi nhớ tới bài thơ của một ông nhà thơ nào đó trong nước mà lòng thấy ngậm ngùi.
"Thầy có nhớ con không...?"
Tôi giật mình nhận ra người đàn ông áo quần nhếch nhác người đàn ông gầy gò ngồi sau tủ thuốc ven đường.
"Thầy còn nhớ con không...?"
Câu lặp lại rụt rè rơi vào im lặng
hoa phượng tháng Năm rơi đầy vỉa hè
rụng xuống trên vai người thầy học cũ
"không... xin lỗi.. ông lầm...
Tôi chưa từng dạy học
Xin thối lại ông tiền thuốc... cám ơn !"
Cuộc sống cho ta nhiều quên, nhớ, vui, buồn
Thầy học cũ mười năm không lầm được
Thầy học cũ ngồi kia giấu mình sau tủ thuốc
giấu mình sau hoa phượng rụng buồn tênh.
Con biết nói gì hơn, đứa học trò tôn sư
người Thầy cũ lại chối từ kỷ niệm,
chối từ những bài giảng dạy con người đứng thẳng,
biết yêu anh em - đất nước - xóm giềng.
Đứa học trò vào đời với trăm nghìn giông bão,
Bài học ngày xưa vẫn nhớ mãi không quên.
Bên hè phố im lìm,
vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt.
Câu phủ nhận phải vì câu áo rách
trước đứa học trò quần áo bảnh bao ?
Tôi ngẩn ngơ đi giữa phố xá ồn ào,
những đứa trẻ con tan trường đuổi nhau trên phố.
Mười năm nữa đứa nào trong số đó,
sẽ gặp thầy mình như tôi gặp hôm nay ?
Ngày rời khỏi quê hương, ngồi trên máy bay nhìn xuống, mùa Thu Sài gòn không có lá vàng rơi, cũng không có con nai vàng nào ngơ ngác, mà sao tôi thấy như vàng cả không gian, ảm đạm cả đất trời. Tôi bỗng ngộ ra một điều ngộ nghĩnh : Đâu phải chỉ có mấy ông nhà Thơ, mấy ông Nhạc sĩ mới nhuộm buồn được mùa Thu, mà có những "đỉnh cao" đang ngự trị trên Quê hương tôi, dù chẳng có một chút xíu tâm hồn nào, có khi không có cả quả tim, cũng có thể làm cho mùa Thu quê tôi... buồn chết được ./.
phạmtínanninh
Tuesday, October 11, 2022
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI MIỀN NAM BẮC LÀ LÒNG TỬ TẾ
Nguyễn Văn Lục
‘’Bản chất của chế độ ngụy là xấu vậy mà không hiểu sao nó lại đào tạo con người giỏi thế. Ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân Bắc Kỳ’’ (Nhận xét của nhà phê bình văn học Hoài Thanh, sau 1975, Hoài Thanh và vợ dọn vào Sài gòn ở theo lời kể lại của nhà phê bình Vương Trí Nhàn)
Hoàng Lan Chi viết: Tác giả, Nguyễn Văn Lục, viết về LÒNG TỬ TẾ. Tôi cũng ưa thích dùng chữ ấy. Cách đây vài hôm, tôi ghi “NHỮNG NGƯỜI TỬ TẾ CỦA THẾ GIỚI NGHIÊNG MÌNH TIỄN NGƯỜI NHẬT VĨ ĐẠI”
Vâng, Tử Tế là cả đời. Anh hùng đôi khi chỉ một thời. Tác giả chỉ ra rõ ràng những bằng cớ về sự khác biệt giữa 2 miền Nam Bắc về LÒNG TỬ TẾ. Không VIẾT SUÔNG nhé. Có chứng cớ từ cả người Nam nằm vùng, từ cả vc ở tù và cả đảng viên cs sau 75.
Tôi mong những người sồn sồn hay đọc để hiểu rõ LÒNG TỬ TẾ KHÁC NHAU RA SAO, VÌ SAO MIỀN NAM CÓ ĐƯỢC TẤM LÒNG TỬ TẾ ẤY VÀ MIỀN BẮC THÌ KHÔNG.
Đọc đi rồi hãy “tôi nhìn tôi trên vách” mà ngẫm nghĩ lại, các người sồn sồn, các vị thanh niên đang sống trong cái lồng CHXHCNVN. Nhé
Hoàng Lan Chi
Phần Một
Miền Bắc: biểu tượng của hận thù
Miền Bắc, sau 1954, được gọi là Bức màn tre do những hoàn cảnh xã hội, chính trị khắc nghiệt, khép kín. Kinh tế sau 1975 kiệt quệ vì nhiều lý do chủ quan và khách quan. Sau này phải nêu khẩu hiệu xóa đói, giảm nghèo. Chính những nhà lãnh đạo miền Bắc cũng không ai nhìn nhận những lỗi lầm tầy trời này: Dân chúng trong Nam vốn dư ăn, dư mặc nay phải ăn bo bo, khoai mì như tầng lớp dân chúng miền Bắc. Do thông tin một chiều, họ che đậy, dấu kín riết rồi họ không hiểu chính họ, hoặc hiểu mà không chịu hiểu thì làm thế nào họ hiểu nếp sống, con người miền Nam được.
Học giả Nguyễn Mạnh Tường viết: ‘’ Aucun sentence n.est prononcé. Les communistes ont le gout de la clandestinité. Toutes les décisions sont prises et appliqués dans un silence de mort. »
(Không có bản án nào được công bố. Người cộng sản thường có thói quen che dấu. Vì thế các quyết định và việc thi hành đều tuyệt đối bí mật)
(Nguyễn Mạnh Tường. Un Ex-Communié. Hà Nội 1954-1991. Procès d;un intellectuel, trang 229)
Sự tử tế của miền Bắc hầu như không thể có theo như nhận xét của của nhà phê bình kỳ cựu Hoài Thanh. Hơn ai hết, ông HT đã hiểu rõ chân tướng của dân miền Bắc cũng như chính quyền ấy. Chính quyền cộng sản chủ trương phân biệt Bạn-Thù dứt khoát, chính tà phải phân minh vì chủ nghĩa Marx- Lénine là chân lý sáng ngời, tuyệt đối. Thù thì phải bôi đen, triệt tiêu và chỉ đáng được được gọi là Thằng.
Đó là một nửa đất nước đã bị nhồi sọ, bị đầu độc từ trên xuống dưới trở thành quán tính.
- Tỉ như bác sĩ nhi khoa Nguyễn Khắc Viện, người đã để nửa đời người sống bên Pháp, một trí thức hàng đầu hiểu rõ văn hóa, hiểu rõ thế nào là tự do dân chủ của nước Pháp. Vậy mà khi viết một bài so sánh Cách Mạng và dân Sàigònđăng trên báo Nhân Dân đã ví von Cách mạng là Sen, dân Sàigòn chỉ là Bùn và ông NKV đã bị phản ứng dữ dội từ giới trí thức Sàigon. Nguyễn Trọng Văn lên tiếng trên báo Nhân Dân, nhưng bài của NTV dĩ nhiên đã không được báo Nhân Dân đăng…
Điều đó trước tiên bày tỏ một lập trường rõ rệt giữa Bạn-Thù và hàm ý sự khinh miệt. Cách mạng tốt đẹp quá, thơm tho quá!! Cách mạng là SEN. Dân Sài gòn chỉ là bọn rác rưởi thối tha là đĩ hoặc điếm. Vì thế Dân Sài gòn chỉ là Bùn.
Thật ra chính nhờ có Bùn mới có sen. Chính nhờ Bùn nuôi dưỡng, tạo ra hương thơm tinh khiết cho Sen. Không có Bùn làm sao Sen nở hoa. Chỉ nhắc nhở ông có bài thơ: Trong đầm gì đẹp bằng sen. Lá xanh bông trắng lại xen nhị vàng. Nhị vàng bông trắng lá sen. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn…
Nhưng đối với cá nhân ông bác sĩ, điều quan trọng là: Chế diễu như thế là đi đúng đường lối của chế độ.
- Tỉ như Đào Duy Anh, sau 1975, một học giả ăn mòn bát đĩa cộng sản, hiểu cộng sản từ chân tơ kẽ tóc, hiểu những mánh khóe tiểu xảo. Vậy mà khi vào miền Nam gặp các trí thức trong Nam, ông theo thói quen quán tính vẫn gọi xách mé: thằng Diệm. Nhiều người lảng tránh ông. Đào Duy Anh là tác giả tập ký: Nhớ nghĩ chiều hôm. Cuốn tập ký lược thuật các công trình biên khảo của ông viết trong nhiều năm. Trần Huy Liệu khuyên ông: muốn sống, muốn tồn tại thì liệu viết mà lách nữa. Ở đây, quả thực ông đã thuộc bài do trần Huy Liệu chỉ dẫn. Tội cho tiếng tăm một học giả. Viết mà sợ, viết mà phải lách vì sợ bị liệt vị, bị thổi còi!!!
Có thể đây chỉ là một sự lỡ miệng, theo thói quen. Như một Lapsus linguae. Nhưng nó cũng chỉ ra rằng gọi thằng Diệm là đúng đường lối.
Cũng chả trách được họ. Ông Hồ, theo ông Nguyển Minh Cần (1928-2016) kể lại trong những buổi họp đảng, có những đồng chi tuổi 80 vẫn bị gọi là các chú theo cái cách cá mè một lứa.
Nghĩ lại, tôi vẫn thấy tiếc nuối cho thời kỳ vàng son nhân hậu của cha ông để lại như thời của vua Lý Thánh Tông, thời trước thuộc địa. Nhà tù không phải là công cụ để trừng phạt. Do chịu ảnh hưởng của Nho giáo, lấy cái tâm, cái đức làm đầu. Nhà vua có lòng thương người chỉ thị cho triều thần phải phát mền, chiếu và gạo cho tù nhân vào năm 1055:
“Sống trong cung điện có lồng ấp than sưởi và mặc nhiều áo ấm, mà trẫm còn thấy lạnh. Trẫm hiểu nỗi khổ của người tù bị gông cùm, không đủ cơm ăn, không đủ áo mặc ấm để che thân thể, nhiều tù nhân chết một cách oan uổng trước khi bị luận tội. Trẫm thương cho họ.”
(Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập I. Hà Nội 1972, trg 284)
Phải nhìn nhận với nhau rằng: thật không dễ để làm người tử tế. Còn khó hơn làm người anh hùng. Bởi vì làm người anh hùng chỉ là việc của một thời. Còn làm người tử tế là việc của cả một đời.
Đất nước chúng ta do thời chiến tranh 1946-1954 và nhất là 1955-1975 đã tự đánh mất đi cái lòng thương người, mất đi cái lòng tử tế. Ngoài cuộc chiến quân sự bạo tàn mà mạng người như cỏ rác, còn có cuộc chiến tuyên truyền ra rả mỗi ngày, đề cao cuộc chiến giải phóng, cứu nước thần thánh. Nhiều nhà lãnh đạo miền Bắc còn để lại các hồi ức như:
- Trần Cung, Bùi Công Trừng, Hà Phú Hải, Văn Tiến Dũng, Xuân Thủy. Họ từng nếm trải cơm tù như Đỗ Mười 5 năm tù Hỏa Lò, sau trốn thoát được vào năm 1945. Nguyễn Văn Linh, hai lần ở Côn Đảo 1930-1935 rồi 1940-1945 và nhất là Hồ Chí Minh với “Nhật Ký trong tù “. Những bài học cay đắng trong tù, được tích lũy thành một mối Nuôi Thù. Nuôi Thù ấy đổ lên đầu nhân dân miền Nam vốn hiền lành và vô tư sau 1975. Trong các hồi ký đó, sự thật là bao nhiêu? Pha chế thêm mắm muối bao nhiêu? Nào ai biết được. Chỉ người trong cuộc mới biết được.
- Ngoài ra, còn những người tù không thuộc phe cộng sản đáng kính nể đòi đời ghi ơn như Nguyễn Thái Học với Đời trong ngục, 1935 tiếp theo là những nhân sĩ như Hồ Hữu Tường, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế. Những người tù này được xã hội kính nể nhất trong xã hội Đông Dương. Ngô Đức Kế được tôn xưng là chí sĩ Ngô Đức Kế. Phan Chu Trinh được chính ông Trùm thuộc địa Marius Moutet kính nể. Huỳnh Thúc Kháng được một người thợ may biếu tặng cụ một bộ đồ không tính tiền.
(Đọc thêm: The Colonial Bastille. A history of Imprisonment in Viet Nam 1862- 1940)
Về phía những người lãnh đạo cộng sản sau này như Đỗ Mười, Xuân Thủy, Nguyễn Văn Linh, Văn Tiến Dũng đều là những người nếm trải cơm tù. Chứng chỉ đi tù trở thành tấm thẻ bài đi vào cửa chính.
Sau này, vẫn thái độ hận thù, miền Bắc vẫn tiếp tục ra rả luận điệu tuyên truyền với những khẩu hiệu: gọi là Mỹ-Ngụy- Mỹ xâm lược- thực Dân kiểu mới. Giải phóng miền Nam…
Họ chỉ quên một điều là sau lưng họ còn có Nga, có Tàu. Ai kéo xe tăng, đại pháo vào miền Nam. Thế thì Ai xâm lược ai. Ai giải phóng ai? Miền Nam có cần ai giải phóng? Ai Ngụy hơn ai?
Vì thế, có lần ông Lê Đức Thọ và ông Xuân Thủy gặp phái đoàn miền Nam- đại diện là nhóm phản chiến, lực lượng thứ ba- được ra thăm miền Bắc, ở khách sạn Thắng Lợi. Ông Thọ nói rằng tiếng Ngụy cần bỏ đi. Ông Xuân Thủy phụ họa: Bây giờ mà còn dùng chữ Ngụy là mất dấu nặng. Là Nguy.
Và xin trích dẫn văn bản chính thức của Cục báo chí xuất bản, số 06BCXB.
Kính gửi: Các cơ quan Thông Tấn Xã, Đài Phát Thanh, Đài Truyền Hình,các Báo chí Miền, Thành phố và các Tỉnh.
Chấp hành ý kiến của lãnh đạo, chúng tôi xin thông báo các đồng chí được rõ:
Kể từ nay, các bài viết đăng trên báo và phát trên đài, ta nên thống nhất dùng chữ: Những người trong quân đội và chính quyền cũ thay cho chữ: Ngụy quân và ngụy quân Sài gòn đã dùng trước đây.
Mong các đồng chí chú ý thực hiện đúng.
Này 17 tháng hai năm 1976.
TM Ban lãnh đạo
Cục Báo chí Xuất bản.
( Ký tên và đóng dấu)
T.T.T
(trích dẫn hồi ký của Hồ Ngọc Nhuận Đời hay Chuyện về những người tù của tôi, trg 52-53-. Ông vừa mới qua đời 1935-2022)
Tưởng rằng từ nay tiếng Ngụy đã đi vào dĩ vãng. Gần nửa thế kỷ, nó vẫn còn văng vẳng đâu đây.
- Nhà văn Dương Thu Hương (1947…) Một hình tượng phản diện của miền Bắc
Nhà văn Dương Thu Hương vốn là một đoàn viên Thanh niên xung phong của một thời oanh liệt về ‘’một cuộc chiến khác mà hầu hết chúng ta không biết đến’’. Họ trực diện với cuộc chiến và nỗi đau. Họ là những cô gái không được biết đến- họ có mặt mà như thể không có mặt-. Họ bị lãng quên trong cuộc chiến mà chủ yếu chỉ là quân đội. Họ thực ra là quân chủ lực của Đường mòn Hồ Chí Minh, với hơn 52.000 người- hầu hết là phụ nữ gia nhập. Cô Huỳnh Thị Tiếp nhớ lại:
‘’ Da nổi ghẻ, tóc trên đầu nhiều cháy rận, các bộ phận kín trong người ngứa ngáy phát điên. Vấn đề vệ sinh vùng kín của phụ nữ ít được đề cập tới. Tình trạng vệ sinh kinh nguyệt thiếu thuốc men, thiếu băng vệ sinh, đồng phục để thay và ít có điều kiện tắm rửa.
(Trích tóm lược Francois Guillemot. « Trực diện với cái chết và nỗi đau. Vấn đề TNXP trong chiến tranh Việt Nam 1950-1975 ». Bản dịch Phương Hòa trên Talawas của Phạm Thị Hoài)
Phần DTH. chua chát về mối gắn bó giữa loài bọ và chiến tranh.: Tôi nằm xuống ván, gối đầu lên tay, đăm đăm nhìn kèo hầm. Dọc theo kẽ nứt của cây kèo, một đàn rệp béo mọng xếp hàng nằm nghỉ. Lũ rệp thời chiến là những ông hoàng, bà chúa. Chúng được tự do và luôn luôn no đủ. Người ta hiến máu cho chúng một cách vui vẻ so với lệ phí của bom đạn thì đó chỉ là những khoản thuế còm.
(Dương Thu Hương, tiểu thuyết Vô Đề, trg 64)
Xông ra mặt trận từ tuổi 20-tuổi của ăn học, mơ mộng và tình yêu trai gái-. Bà là một chân dung tiêu biểu nhất của cuộc chiến thảm khốc này. Bà đã vẽ lại một một cảnh tượng hầu như phi thực về một cái chết bi thảm của 6 cô gái trong rừng mà mùi hôi thối giậy lên nồng nặc như thể dẫn đường cho những người sống đến tìm. ‘Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới Vực cô hồn, gặp 6 cái xác truồng… Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xanh. Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đấy là những con gái miền Bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị TNXP cơ động nào bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo.’
(DTH. Tiểu thuyết Vô Đề, trg 8)
DTH vì thế còn là một biểu tượng cực đoan cùng cực, một ngòi bút dữ dằn như những lát gươm chém và hư cấu hiện thực vô bờ ngoài cả sức tưởng tượng. Bà là biểu tượng cho sự kinh tởm đến tuyệt đối về cuộc chiến. Sự lừa phỉnh của chiến tranh và sự che dấu một cách bài bản những điều cấm kỵ của những năm 90 của cấp lãnh đạo miền Bắc. Bà đã bóc trần ra một cách trần truồng tình cảnh các chị em trong TNXP. Bà đã phơi bày việc xâm hại tình dục cũng như tàn phế do chiến tranh để lại và về những chấn thương tâm thần và thể xác cho lớp TNXP như bà.
Theo bà, họ phát điên loạn lên. ‘’Mấy cậu (chỉ mấy cô TNXP. NVL) sốt rét ác tính, điên rồ, cởi hết áo quần ra mà nhảy múa, la hét.’’
(DTH. Tiểu thuyết Vô Đề, trg 100)
Đó là những Hội chứng do chiến tranh vì nỗi nhớ nhà, từ đời sống bình thường yên hàn sang chiến tranh, từ lý tưởng cao vời đến thực tế khô trồi, từ những lo ngại hiểm nguy chết tróc rình rập, từ những mất mát và tuyệt vọng trở thành Nỗi điên tập thể. Về bệnh hay cười.
Cộng thêm những ham muốn tình dục, những đòi hỏi khát vọng thỏa mãn và những cuộc tình vụng trộm bị cấm đoán cũng là là một phần của cuộc chiến này mà không ai lường trước được.
Đó là một cuộc sống như một bi kịch phi thực ngoài sức tưởng tượng của con người. Phần tôi có thể chỉ là người miền Nam, có thể đứng bên lề cuộc chiến tàn bạo và phi nhân ấy đành chỉ biết thầm lặng: Thì hãy mời bạn đọc miền Nam người tự mình cầm lấy và đọc: Tolle et Lege.
*Góc nhìn của David Lamb : « Nữ cán binh thời chiến, nỗi đau thời bình »
Ngoài cuộc chiến của TNXP do Francois Guillemont viết. Chiến tranh phi nhân ấy còn được mô tả dưới góc nhìn khác của David Lamb.Thay vì nói về những tàn khốc của cuộc chiến. Ông nói về : Nỗi đau thời bình. Có thể nói không một nước nào- trừ Liên Xô- trên thế giới này xô đẩy ra chiến trường những đội binh nữ trẻ, tuổi mộng mơ vào một địa ngục trần gian chỉ để chu toàn một giấc mơ hão huyền của tuổi trẻ.
Nhưng vấn đề quan trọng không hẳn là trong cuộc chiến mà là sau cuộc chiến khi hòa bình trở lại. Số phận những cô gái này ra sao. Hãy nghe một số nhân chứng sống sót trở về qua tâm sự của họ.
*Lời bà Vũ Hoài Thư, một trong số 500 phụ nữ trong đoàn chiến binh 559, quê ở Ninh Bình, cách 60 dặm ở phía Nam Hà Nội. Người đã chiến đấu trong cái mà người cộng sản Việt Nam gọi là Cuộc Chiến Chống Mỹ. Bà than và tâm sự : ‘Ôi, rừng sâu đã làm tôi già đi biết bao nhiêu. Cuối cùng, tôi đã gặp một người con trai dễ thương. Anh ấy đã hỏi cưới tôi, nhưng cha mẹ anh không cho. Anh đã không muốn rời bỏ tôi, nhưng tôi đã thuyết phục anh là anh phải bỏ. Tôi đã quá yếu vì sốt rét và thiếu ăn. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ không bao giờ để sinh con đẻ cái cho anh ấy’.
Họ nói về chuyện trở về nhà với đời sống còn khó khăn hơn là đời sống mà họ đã rời bỏ. Họ cay đắng dai dẳng trong suốt bao nhiêu năm đã là những chiến sĩ bị bỏ quên trong một cuộc chiến tranh mà những người đàn ông chiến đấu- chứ không phải phụ nữ- đã trở thành anh hùng.
*Theo lời bà Nguyễn thị Bình: ‘Tôi đã tưởng cuộc đời tôi sau chiến tranh sẽ giản dị và hạnh phúc, cân được 85 pounds khi trở về nhà. Nhưng tôi đã để cho người bạn trai tôi ra đi. Tôi đã nói với anh ấy rằng với những chứng bệnh của tôi, với một chân bị thương của tôi, tôi sẽ là một gánh nặng cho anh ấy.
Bà Bình đã sống một mình suốt 17 năm, một hình thức lưu vong trong một xã hội còn nặng thành kiến về phụ nữ trong gia đình, nhất là về hôn nhân. Thế rồi, do sự thúc dục của những cựu đồng chí trong đoàn phụ nữ- đoàn 559-, bà Bình đã lấy một người chồng qua đêm và sinh được một đứa con gái. Bà và đứa con tên Lan, hiện 10 tuổi, sống với nhau trên một cánh đồng lúa nhỏ do bà canh tác.
Trong số những phụ nữ của Đoàn 559, họ là 50 người đã trở về như những người tàn tật và 40 người đã không trở về. Trong một buổi họp ở Ninh Bình, người chỉ huy của đoàn là Trần thị Bình đã cùng nửa tá người mặc những đồng phục cũ tại một tiệm ăn nhỏ. Và khi bữa ăn được dọn ra, bà Bình đã chia xẻ với các bạn một bài thơ do bà sang tác: ‘Thời con gái’. Bà vừa ngâm và vừa nhắm mắt lại:
Tôi muốn đốt một nén hương
Cho những người con gái xấu số
Vẫn đợi chờ
Chúng tôi những cô gái Trường Sơn,
Tóc đã hoa râm và lòng tràn đầy kỷ niệm,
Tưởng nhớ những người bạn tình
Đã đi xa không bao giờ tìm được
Những phụ nữ khác tại bàn ngoảnh mặt đi. Một vài người úp mặt vào lòng bàn tay. Vài người lấy giấy thấm nước mắt. Khi bà Bình chấm dứt, một sự im lặng bao trùm. Rồi có người lên tiếng: ‘’Hãy làm cho ngày hôm nay là một ngày vui đi.’’.
(Tờ Los Angeles Times, Viet- Mercury, 17.01.2003)
- Phúc âm của tội ác
Sau này, nhà văn DTH trong Tự Bạch cho rằng: sau chiến thắng, tác giả chỉ được một con búp bê về làm quà cho con, tác giả đau xót nhận ra rằng biết bao hy sinh mất mát để trả giá cho một vinh quang khải hoàn môn chỉ là ảo tưởng. Nỗi đau xót ấy nêu bật lên nghi ngờ về mục tiêu của cuộc chiến mà bây giờ bà mới ngộ ra cũng như nhiều nhà văn nổi tiếng khác đã trở lại đạo làm người và cổ võ cho tinh thần xét lại như mội cải đạo. Sự nhìn lại ấy bây giờ trở thành sự cứu rỗi cuối cùng. Nó trở thành như Tấm áo giáp tinh thần lúc này giúp che chắn tâm hồn. Nay nó chính là Niềm Tin. Như trong các cuốn: Bên Kia Bờ Ảo Vọng (1987), cuốn Thiên Đường Mù. (1988), Chốn Vắng. (2002). Những cuốn sách này như một nhân chứng tố cáo sự lừa đảo tuyên truyền bánh vẽ mà thật sự chỉ là ảo vọng. Hầu hết các tác phẩm của bà đều được dịch ra tiếng Pháp, hoặc tiếng Anh, vì chúng bị cấm ở trong nước.
Đây là những cuốn sách mở đường cho sự tố cáo sự tàn bạo và dối trá, lừa đảo của cuộc chiến.
Bà tuyên bố thẳng thừng: Không thể xếp tôi đứng với hàng ngũ những người mà tôi khinh bỉ.(trong Bách Khoa toàn thư Wikipedia)
Sự lăn xả nhập cuộc như lên đồng trong chiến tranh lúc ban đầu cũng như sự dứt khoát khước từ khi không còn chiến tranh của bà là một tấu khúc hoàn hảo của toàn thể xã hội miền Bắc. Biện chứng vào và ra là thái độ của nhiều đảng viên kỳ cựu khác- ước mơ-lầm lỡ và bội phản- như tướng Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Nhật ký Tô Hải « Hồi ký một thằng hèn » nhất là nhà văn Trần Đĩnh với cuốn Đèn Cù.
Họ đã lột xác trong đau đớn, bị khinh bỉ, tủi nhục và nỗi cô đơn.
Tóm một lời: Khi biết được mình đã lầm lỡ thì tóc trên đầu đã bạc phơ!!
- Phần Hai về miền Nam với lòng tử tế.
* Lòng tử tế qua các bài học vỡ lòng: Sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư
Sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư xuất bản từ năm 1935 do Nha Học Chính Đông Pháp. Soạn giả là các ông Trần Trọng Kim và các ông Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Soạn… Nó gồm 4 cuốn : một cuốn cho lớp đồng ấu tương đương lớp một. Một cuốn cho lớp dự bị tương đương lớp hai. Cuốn Sơ Đẳng tương đương lớp 3. Và cuốn Luân lý Giáo khoa thư nói chung… Nó thâu tóm toàn bộ các bổn phận làm Người tử tế. Nó bắt rễ sâu trong tâm thức người Việt Nam trong cách ứng xử với cha mẹ tổ tiên, với Trời đất, với thày dậy,với chính bản thân mình, với họ hàng, bạn bè, với kẻ ăn người ở, dĩ chí cả với súc vật. Nó như một gia tài đồ sộ, một thứ Văn Hóa Phi Vật Thể (Văn hóa phi vật thể là những giá trị tinh thần như Ca dao, Tục ngữ – khác với Văn hóa vật thể như Đền đài, lăng tẩm. NVL). Văn hóa phi vật thể dành cho mọi người – không trừ- từ ngoài Bắc trước 54 và tồn tại trong Nam từ 1954-1975. Lớp trẻ tiểu học coi như những bài học vỡ lòng như hành trang chuẩn bị vào đời. Đây là những bài học giản dị, dễ hiểu, mỗi bài đều tóm tắt bằng một câu ngắn ngọn, khắc in vào đầu mà nay chính bản thân tôi còn nhớ được như:
-Với Trời-Đất: Lạy Trời mưa xuống. Lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày. Lấy đày bát cơm. Lấy rơm đun bếp…
– Với Cha-Mẹ: Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con…
– Với Con Trâu và Người đi cày : Trâu ơi ta bảo trâu nay. Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta…
– Nó còn vô số các bài học thực tiễn khác như: Thờ cúng tổ tiên. Anh em như thể tay chân. Xuân đi học coi người hớn hở. Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Lá rành đùm lá rách. Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ. Thấy người hoạn nạn thì thương. Không tham của người. Có học phải có hạnh. Chớ nên nói xấu người. Không nên hành hạ súc vật. Học trò đối với Thày. Nhất là câu chuyện ông Carnot về thăm thày cũ dễ thương và cảm động: ‘’ Thưa thày, con là Carnot đây… thày còn nhớ con không?
Nó được coi như cuốn cẩm nang hành trang cho tuổi trẻ vào đời.
Trong Hương rừng Cà Mâu của nhà văn Sơn Nam, xb năm 1962, có truyện ngắn: ‘’Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư” cho thấy dấu ấn tình tự con người bàng bạc trong thơ văn, trong nếp sống dân giã..của con người Đồng bằng sông Cửu Long, nơi còn được gọi là Văn minh miệt vườn.
Sau này, ở miền Nam QCGKT được đổi ra thành môn Công Dân Giáo Dục thời VNCH.
Nơi đây, tôi muốn bày tỏ riêng niềm tri ân đối với miền Nam mà tiêu biểu là các thày cô giáo bậc tiểu học đã cấy vào tâm hồn trẻ thơ của cả một lớp người trẻ trong tinh thần Giáo Khoa Thư và Luân lý Giáo khoa Thư. Không có họ, không có QVGKT mà cũng chẳng có lòng tử tế.
Miền Bắc ngay từ 1935 đến 1954 cũng được thừa hưởng gia tài của QVGKT như miền Nam qua người dân Hà Nội… Rất tiếc, sau 1954, Sách QVGKT như nhiều tài liệu quý báu khác bị người cộng sản Hà Nội quăng vào sọt rác. Thay vì yêu cha, yêu mẹ, yêu tổ tiên ông bà. Thay vì yêu bạn bè, yêu súc vật thì nay thay thế bằng một hình tượng mới: Yêu Bác Hồ. Trẻ con đêm nằm mơ thay vì thấy Tiên thì nay thấy Bác Hồ.
Mẫu người Người Tử Tế nay hiếm hoi mà thay bằng mẫu Người Anh Hùng đủ loại. Mẫu người anh hùng ở miền Bắc thì nhan nhản ngoài đường phố. Ra đầu ngõ là gặp.
- Mẫu người Tử tế trong chính quyền miền Nam. Miền nam có cái may mắn là được kế thừa lòng tử tế truyền lại. Vì thế, lãnh đạo chính quyền có các chính sách khoan hồng, hòa giải như chính sách binh vận, dân vận, nhất là Chiêu Hồi. Chính sách đó không hẳn là chính trị, nó vượt trên chính trịmà căn bản, nó dựa trên tình tự tình người như tình nghĩa đồng bào, tình nghĩa xóm làng, gia đình, họ hàng, bạn bè. Hiện tôi còn giữ trong tay tài liệu ghi rõ sự quan trọng của chính sách Chiêu Hồi thời đệ nhị Cộng Hòa: Bộ Thông Tin và Chiêu Hồi. Đánh nhau là truyện bất đắc dĩ. Chiêu Hồi mở đường cho sự gia nhập, hòa giải.
Cho nên, các tình tự con người trong các chính sách đó được coi trọng hơn là lập trường chính trị nhất thời.
Xin nêu ra một vài trường hợp được kể lại: Có lần nhà thơ Cung Trầm Tưởng nói với tướng Kỳ- một tướng võ biền đòi đem máy bay bỏ xuống miền Bắc- vào năm 1968 .Thanh Nghị vào khu. Cung Trầm Tưởng nói với tướng Kỳ cho phép anh đưa chị Tâm Vấn (vợThanh Nghị. Sau này bà Tâm Vấn lấy bác sĩ Nguyễn Đan Quế)) vào ở cư xá Không quân TSN. Tướng Kỳ đồng ý và thỉnh thoảng hhỏi thăm chị Tâm Vấn có khỏe không. Đó là tình người- người vượt ranh giới chính trị.Trường hợp Thanh Lãng cùng với Nguyễn Văn Trung đi chiếc xe hơi từ Vũng Tàu về, bị lính Mỹ lấy đá chọi chơi bể kiếng xe. Ông đã gửi thư đến tòa Đại sứ Mỹ phản đối việc đó. Tòa Đại sứ đã viết thư xin lỗi và đề nghị tiền bồi thường. Người Mỹ biết tôn trọng dân chủ, biết tôn trọng luật pháp. Cứ giả dụ, thay vì lính Mỹ, đây là lính Tàu thì họ có bồi thường không?
Những người bạn cùng lớp với tôi thời sinh viên đại học Đà lạt như Dương Văn Ba, Nguyễn Trọng Văn đều theo bên kia hầu như công khai, nhưng vì tình bạn nên chúng tôi làm lơ, chả ai tố cáo gì. Mà có tố cáo thì còn có thủ tục pháp lý, có nhân chứng, có luật sư nữa. Rồi còn những nhóm thành phần thứ ba hàng vài chục người, thành phần phản chiến, hoạt động công khai như Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung có sao đâu!
Họ biết chắc một điều: Phản đối cứ phản đối. Họ không sợ đến an ninh của họ vì không có chuyện trả thù, không sợ công an chìm mò tới nhà bắt cóc mang đi.
Tôi nghĩ miền Nam thua miền Bắc vì cái tình người, cái lòng tử tế ấy.
Tôi hỏi và tự trả lời. Những hoạt động như thế có thể xảy ra ở Hà Nội hay không?
Vì thế, nhiều người phía bên kia do chính sách Chiêu Hồi đã quay về với chính quyền miền Nam mà con số lên đến vài chục ngàn người.
Tiêu biểu nhất có thể là nhà văn Xuân Vũ (ông là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, rồi được điều động vào miền Nam trên đường Trường Sơn. Rồi chấp nhận chính sách Chiêu Hồi.1930-2004) ông đã có trên 90 đầu sách bao gồm truyện ngắn, truyện dài, hồi ký. Tôi đã từng đọc ông một cách hứng thú với lối viết không dài dòng, trung thực mà không tuyên truyền bịa đặt, xuyên tạc, cũng không phỉ báng ai, dù là chế độ miền Bắc mà ông đã từng đi tập kết. Cuốn Đường Đi không đến, tập hồi ký vượt Trường Sơn đã được trao giải thưởng văn chương toàn quốc, năm 1973.
Hiện tôi cũng còn giữ một tập tài liệu photocopy khá đặc biệt nhan đề : ‘’Bội phản hay chân chính’’. Tác giả là cán bộ nằm vùng tên Dư Văn Chất bị mạng lưới tình báo của Đoàn Công Tác Đặc Biệt miền Trung Ngô Đình Cẩn giam giữ tại trại Lê Văn Duyệt, đường Tô Hiến Thành. Sau 1975, những người bị tù này được thả ra và chính quyền cộng sản không tin dùng, vì bị lê Đức Thọ coi là: Có vấn đề. Có người bị nghi ngờ vu khống, mất chức hoặc chết oan uổng sau 1975 chỉ vì câu nói của Lê Đức Thọ, trưởng ban tổ chức Trung Ương. Họ với họ từng là đồng chí, nay nghi ngờ nhau. Người cộng sản lại sợ chính người cộng sản.
Ông Dư Văn Chất đã viết tập tài liệu này để biện minh cho việc họ vẫn trung thành với đảng. Ông viết : ‘’Bằng tác phẩm này, tôi muốn nói với Đảng, với người thân và bạn bè, với người yêu và kẻ ghét, nói thay cho người đã chết và cho cả người còn sống.’ Tập ký 233 trang đề 19 tháng 8 và 2 tháng 9, 1992 và tháng 7, 1993. Đặc biệt nhờ ông Trần Quốc Hương ( tức Mười Hương), có thời là UVTƯĐ, linh hồn của cục tình báo viết thư tay cho ‘Anh Hai Tân, phó bí thư Thành Ủy và anh Tư Sang, phó bí thư Đảng Ủy TP. HCM, yêu cầu cho xuất bản. Không được bị từ chối. Họ đành in phocopy 100 bản và đây là một trong những bản ấy’’.
Xin trích dẫn một phần tập tài liệu đề cập đến trại giam Lê Văn Duyệt của ông Ngô Đình Cẩn.
- Nhà tù không song sắt.
Dư văn Chất viết:’’ Ngủ có divan hoặc giường sắt hay ghế bố, mỗi người một cái,có mùng, có tấm đắp đàng hoàng. Có giờ, có giấc. Ăn uống cũng khá hơn chế độ thầu. Có câu lạc bộ, có phòng đọc sách, có sân banh giải trí, có bàn ping pong.
‘Ăn cơm Tiều’, một danh từ được khai sinh trong trại Lê Văn Duyệt. Không biết bên chính quyền dự chi về ăn uống một người được bao nhiêu mà ở trại Lê Văn Duyệt thì chúng tôi được 5$50 tiền chợ mỗi trại viên hưởng một ngày. Đáng lý chúng tôi mỗi người ăn 5$50, nhưng chúng tôi khai cơm Tiều, nghĩa là một mâm 4 phần ăn. Chúng tôi ăn năm người.. Phần dư ra 5$50 thay nhau lãnh. Ăn sáng 1$ một người. Nếu nhịn thì một tháng cững được thêm 30$.
Ở tù mà lãnh lương, ở tù mà cũng đi phép nghỉ. Có nhiều anh ở tù lâu, cuối tuần được nghỉ phép. Chiều thứ bảy về, sáng thứ hai vô. Hoặc có anh về hằng đêm, 5 giờ 30 sau giờ làm việc ra cổng, sáng 7 giờ 30 về ở tù.Theo tôi, nhà tù trại giam Lê Văn Duyệt của ông Ngô Đình Cẩn là có một không hai trên thế giới. Đó là tù không song sắt.
Nói ra thì không một ai tin. Nhưng sự thực là như vậy, do chính tù nhân trại giam viết
Những sự kiện như thế là một thực tế có thật, chỉ có thể xảy ra ở miền Nam mà không thể nào xảy ra ở miền Bắc.
Trong cuộc chiến Nam-Bắc, số tù binh cộng sản ở trong Nam hẳn là cần nhiều trại giam. Một phần chính quyền xử dụng những nhà tù có sẵn từ thời Pháp thuộc như Khám Lớn, nhất là tại Poulo-Condonré được coi như hỏa ngục của người sống. Rồi mỗi tỉnh thành trong Nam đều có nhà tù để giam giữ cán binh cộng sản. Vẫn không đủ sức chứa tù nên còn lập thêm các trại giam như trại Phú Lợi, trại Tân Hiệp. Riêng trại Tân Hiệp có lúc chứa đến 3000 người. Sự tàn nhẫn, đánh đập, hiếp đáp, ăn uống thiếu thốn- tôi thiển nghĩ- do lòng tham của ban Quản Đốc trại, thật khó mà tránh khỏi.
Nhưng nếu so với các trại Tập Trung Cải Tạo sau 1975 thì chẳng thấm thía gì. Tôi dám gọi các trại cải tạo ấy là một thứ tội ác chống lại con người. Ngụy quân, ngụy quyền bị nhồi sọ, tẩy não. Họ bị giam không xét xử. Không thời hạn. Có người bị giam đến 17 năm tù” Đó là một thứ nghĩa địa chôn vùi cuộc sống của người tù. Tất cả là một sự tính toán tinh vi, tàn bạo để con người chết chậm, chết dần dần đến tàn tạ. Nhiều người khi được thả về chỉ còn là một tấm thân tàn phế như một phế vật.
Vì thế, tôi mới ngộ ra, các nhà văn miền Bắc có từ: Sống mòn. Gớm thay, tội ác của cộng sản. Người miền Nam khó có thể quên được.
- Lòng tử tế của miền Nam còn rộng mở đón nhận những tinh hoa từ miền Bắc.
Điều này càng cho thấy đất Bắc không thực hiện được lòng tử tế, vì toàn bộ miền Bắc bao phủ cuộc chiến với hận thù với xác quân thù. Quân thù nào, là ai? Chúng ta cứ thử nghe bài quốc ca- còn được gọi là Tiến Quân Ca do Văn Cao sáng tác- được coi là là linh thiêng, là linh hồn của tổ quốc với nội dung rực lửa kể từ ngày 2 tháng chín năm 1945 đến nay đã hơn 70 năm!!:
‘’ Đoàn quân Việt Nam đi. Chung lòng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước.
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.
Đường vinh quang xây xác quân thù.
Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu
Vì nhân dân chiến đấu không ngừng
Tiến mau ra xa trường. Tiến lên. Cùng tiến lên
Nước non Việt Nam ta vững bền.
Bài hát xem ra không hợp thời nữa. Đáng nhẽ phải đổi.
Bản thân người viết đón nhận những nhà văn miền Bắc trong tâm tình tử tế và kính trọng. Những nhà thơ, những nhạc sĩ như gia tài chung của Việt Nam mà không chút nề hà. Những nhà văn lớp Nho học còn sót lại như Ngô Tất Tố. Ông từng đả kích những ông quan đầu sỏ như Hoàng Trọng Phu, Phạm Quỳnh: ‘’Ấy thế mà ông chủ bút Nam Phong chỉ nhảy đánh vọt một cái lên làm được ghế Thượng Thư bộ giáo dục, bàng quan ai cũng phải ngạc nhiên. Người ta tưởng tượng như đứng trước một trò rất phi thường trong rạp xiếc.”
(Phê bình Văn Học, Nguyễn Huy Tưởng, Ngô Tất Tố, Tô Hoài , trg 149).
Ông viết Việc Làng, Lều Chõng. Nhưng Tắt Đèn là tác phẩm hiện thực xuất sắc nhất với hình ảnh chị Dậu. Tôi đã có dịp đọc tất cả trong sự say sưa và nể phục. Rồi những nhà văn như Trần Tiêu (tác phẩm Con Trâu),ông là em ruội Khái Hưng . Rồi một lượt những nhà văn như Nguyễn Tuân với Chùa Đàn,Tóc chị Hoài, nhất là Vang bóng một thời mà theo Vũ Thư Hiên ông được coi như bậc thầy của ngôn ngữ : << Chữ nào ông dùng cũng đắt, khó thay bằng chữ khác>>. Rồi đến Tô Hoài, Nguyên Hồng.Tôi còn giữ Tuyển tập Nguyên Hồng, xb 1985. Đọc mà ngậm ngùi. Tô Hoài với Dế mèn phiêu lưu ký(1941), O chuột, xóm Mới, Nhà nghèo.
Cũng phải kể đến thi sĩ Hồ Dzếnh với những bài thơ lục bát mượt mà. Nói chi đến Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Khái Hưng, Nhất Linh trong các giáo trình của các lớp trung học đệ nhị cấp của VNCH trước 1975. Lưu Trọng Lư còn đình đám hơn với bài Tiếng Thu , chỉ có 9 câu được phổ nhạc: Em không nghe mùa thu. Dưới trăng mờ thổn thức. Em không nghe rạo rực. Hình ảnh kẻ chinh phu. Trong lòng người cô phụ
Nhạc có Văn Cao sánh vai cùng với Trịnh Công Sơn, Phạm Duy một thời. Nhưng số phận ông cũng hẩm hiu mặc dầu là người sáng tác ra bài Tiến quân ca.
Nhưng trước hết và hơn cả là Nam Cao. Ông đã thênh thang vào ngưỡng cửa trường đại học văn khoa Sài gòn với truyện ngắn Chí Phèo. Đến ngay những nhà văn nổi tiếng một thời như Mai Thảo, Doãn Quốc Sĩ, Võ Phiến của miền Nam cũng không có được cái vinh dự ấy.
Trong khi số phận những nhân tài đất Bắc, số phận họ ra sao? Họ đều phải Tự kiểm duyệt, nơm nớp sợ bị thổi còi như Nguyễn Tuân, như học giả Đào Duy Anh, như Văn Cao và rất nhiều văn nghệ sĩ khác.. Văn học miền Bắc đã có cắm cột mốc: muốn làm gì thì làm, nhưng không được động đến chính trị. Tôi nghĩ đến một xứ chột bị bịt mắt, bịt mồm. Đời sống thì lao đao túng bấn như Văn Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài.
- Tờ Đất Nước, tháng giêng 1968 đã dành hẳn một số để kỷ niệm: 50 năm Cách Mạng tháng mười
Đi thêm một bước nữa, tiến xa hơn, trong Nam, giới trí thức, nhất là thành phần thứ ba, nói viết và phản kháng, đòi dân chủ, đòi chấm dứt chiến tranh mà không sợ nhà cầm quyền bắt giam. Người ta vẫn có thể biểu lộ quyền yêu hay ghét cộng sản. Nhưng bao lâu chỗ nào còn lầm than áp bức, bất công, chủ nghĩa Mác vẫn là một sự quyến rũ, một niềm hy vọng giải phóng!!!! Riêng đối với các dân tộc bị trị, cộng sản có phải là con đường độc nhất và cuối cùng để thực hiện hai mục tiêu trên không. Đất Nước, chủ bút Nguyễn Văn Trung đã tự hỏi. Vì thế đã có những bài:
- Cách Mạng Nga 1917 của Nguyễn Khắc Ngữ.
- Trí thức Nga trước Cách Mạng của Diễm Châu
- Từ Cách Mạng tháng 10 đến Cách mạng tháng 8 Trương Bá Cần
- Cảm nghĩ về cuộc Cách mạng Nga Lý Chánh Trung.
- Cộng sản người anh em của tôi Nguyễn Văn Trung.
Nguyễn Văn Trung còn năng nổ viết cuốn: Hành Trình Trí thức của Karl Marx. (in xong 15-10- 1966. Có giấy phép số 666 BTT. NHK. PHNT)
Trần Văn Toàn: ‘’ Tìm hiểu Triết Học Karl Marx.
Số phận những trí thức ấy ra sao sau 1975?
Còn ra sao nữa!! Bị Truy dập, bị tù đầy. Cả 200 giới văn nghệ sĩ Sài gòn đều bị bắt đi tù, đi cải tạo. Mà cái tội chỉ vì cầm bút. Như Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sỹ. Hoàng Hải Thủy, Tạ Tỵ, nhà văn Thảo Trường. v v…
Trong số đó có Nguyễn Văn Trung. Theo Nguyễn Văn Trung viết lại, một người trong Ủy Ban Quân Quản ĐHVK Sài gòn nói: ‘’ Chúng tôi không bố trí anh dạy học vì không thích hợp với cách chúng tôi đang thực hiện và để anh tự ý nghiên cứu theo lối nhìn của anh, thì những công trình nghiên cứu của anh sẽ ích cho đất nước nhiều hơn”.
hưng nếu không dạy học, không có lương lấy gì mà sống?
Đã hết đâu, ba năm sau, ông bị bắt giam, kết tội là: Phản động, C.I.A cho Mỹ (có thể bị tử hình hoặc chung thân). Vào chiều ngày 14-6-1978, một toán công an đến đọc bản án và xét nhà, ông đã chỉ cho họ vác tài liệu để họ lấy mang đi đầy một xe LaDalat. Sáng hôm sau, một xe tải lớn đến tịch thu kho sách trên sân thượng. Nhưng nghĩ thế nào, họ lại thôi. Chỉ niêm phong. Ông bị biệt giam một mình. Ngày ngày chỉ viết các bản tự khai. Sợ quá tưởng chết, ông viết chúc thư xin lỗi bạn bè, nhất là bà con anh em ruột thịt về những lời nói việc làm của ông. Con trai trưởng của ông chứng kiến cảnh bố bị bắt giam nên đã quyết định tìm đường vượt biển và đã sang định cư ở Canada. Làm C.I.A cho Mỹ mà NVT không nói được một câu tiếng Mỹ. Phải nhờ Đặng Tiến hay Nguyễn Hữu Thái thông dịch. C.I.A nào nó mướn?
6 tháng sau, bất ngờ ông được trả tự do ở sở công an với lý do: Tạm tha vì lý do sức khỏe.. .Từ Phản động đến tha là một điều không hiểu được.
Tôi có cảm tưởng, 6 tháng tù biệt giam ấy, NVT không biết có rút ra cho mình được bài học gì không. Phần tôi đã từng chứng kiến xác những người đàn ông, đàn bà, chết cong queo, ám khói đen, vì cộng sản gài mìn trên đường số 5-Hà Nội- Hải Phòng. Lúc 5,6 tuổi, ở nhà quê, tôi đã nhìn thấy xác ngươi bị bỏ rọ, trương phình như lợn quay vập vờ đập vào kè đá cửa sông Đáy.
Tôi đã ghi lại trong một bài viết: Câu truyện của một dòng sông. (dcvonline.net, posted 2, 2018. Dòng sông cũ)
Đúng như nhà văn Bùi Ngọc Tấn tâm sự:’’ Có lẽ lại phải viết thôi. Viết về tuổi trẻ bị đánh mất. Viết về tuổi già xót xa tuổi trẻ. Về nỗi xót thương nhau trong những trái tim mệt mỏi, những mái đầu bạc đang tính đếm những ngày còn lại. » ( Trả lời phỏng vấn với nhà thơ Phạm Tường Vân trong dịp cuốn’’ Chuyện kể năm 2000 » vừa được xuất bản)
Dù sao, sau này ông NVT cũng có được một câu để đời giống vài người như Lý Chánh Trung, Ngô Công Đức.
Lý Chánh Trung trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, 13-11- năm 1988 có viết một bài về môn học triết lý K. Marx mà trước đây ông đã chót từng ca tụng thì nay ông chế diễu ‘’Về một môn học mà thày không muốn dạy, trò không muốn học”. Đối với LCT, gốc dân ruộng: Nói dzậy là đủ rồi. Qua không muốn nói nữa. Nói nữa là qua nổi quạu.
Còn dân biểu Đối lập Ngô Công Đức cũng thẳng thừng không kém: ‘’Tôi có hai điều không ưa. Đó là tôi không thích những người công an.Tôi cũng không thích người Bắc Kỳ. »
Nguyễn Văn Trung thì văn hoa hơn:’’ Tham gia cách mạng là tham gia vào một quá trình tự hủy diệt sau này.”
Phần tôi, tôi khẳng định triệt để, tôi giã từ người cộng sản ngay từ khi lên máy bay từ phi trường Gia Lâm di cư vào miền Nam năm 1955...
Bởi vì họ thiếu tình người. Bởi vì họ không là những người tử tế…
Nguyễn Văn Lục
19 THÁNG 8 NĂM 1945: CÁCH MẠNG HAY VIỆT MINH CƯỚP CHÍNH QUYỀN?
Giáo Sư Phạm Cao Dương 19 tháng 8, 1945, Việt Minh Cướp Chính Quyền. Nguồn internet. Dù trong nước mườ...
-
THÔNG BÁO Kính g ởi : - Qu ý Ni ên Tr ư ởng - Qu ý Huynh Tr ư ởng ...
-
Trưa 30/4/1975. Cởi áo trận, ...

