Sunday, April 28, 2024

THÁNG TƯ - VÀ MỘT CUỘC GIẢI PHÓNG KHÁC


Thanh Nghiên      NVOL

          Một ngày nọ đi làm về, khi vừa bước vào nhà, tôi đã phát hiện cái bàn thờ ông Hồ Chí Minh không còn ở vị trí cũ. Chắc là bố tôi đã chuyển nó sang chỗ khác. Tôi ngó nghiêng tất cả những vị trí trang trọng nhất mà tôi nghĩ bố tôi sẽ đặt bàn thờ, hoặc chí ít là treo được tấm hình cho xứng tầm với sự “vĩ đại” của ông. Nhưng không, giờ đây nó nằm chềnh ềnh trong thùng rác. Bát nhang và những tấm gỗ nằm ngổn ngang, lẫn với đủ loại gốc rau, vỏ trái cây, ruột cá – thứ mà mẹ tôi vừa vứt vào khi chuẩn bị bữa tối cho cả nhà

Trên chiếc chiếu bố tôi hay ngồi uống trà, ảnh ông Hồ đã bị lột khỏi tấm khung gỗ, nằm vật vờ, méo mó. Tôi lặng lẽ nhặt bức ảnh lên, kín đáo kẹp vào cuốn sổ tay, cất trong ngăn bàn. Tôi sốc, và cả sợ hãi. Một nỗi buồn vô cớ ập đến, bám riết lấy tâm hồn tôi. Hai mươi bảy năm sau cái ngày được gọi là “giải phóng” ấy, bố tôi đã đoạn tuyệt với ông Hồ, với chủ nghĩa Cộng Sản, theo một cách bất ngờ như thế.

          Ngày ấy tôi không hiểu vì sao ông lại làm như thế. Bố tôi không bao giờ giải thích, chỉ nói cộc lốc một câu “Đừng bao giờ nhắc đến ông ta nữa.” Nhưng từ đó, mấy mẹ con tôi phải nghe những lời chửi rủa nhiều hơn, nhất là khi xem chương trình thời sự của đài truyền hình nhà nước, với những câu như “Đ.m. cộng sản” hay “Đ.m. quân lừa đảo.”

          Nhưng vào lúc ấy, tôi vẫn là một thanh niên yêu ông Hồ và tin vào đảng CSVN, dù lý trí không tự giải thích được vì sao lại thế. Nếu hồi đó có người hoạnh họe về niềm tin của tôi, chắc chắn là tôi sẽ không trả lời được. Hoặc nếu có, thì sẽ lại nói như con vẹt, nói cùn như bọn dư luận viên bây giờ.

          Đồng nghĩa với sự sùng bái Hồ Chí Minh và đảng CSVN của tôi lúc đó là sự căm ghét đối với chế độ VNCH, với các nhân vật lãnh đạo miền Nam như Tổng Thống Ngô Đình Diệm hay Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Tôi từng tin rằng, ông Diệm đã lê máy chém đi khắp miền Nam để giết hại đồng bào mình. Tôi từng tin những người lính phục vụ trong chế độ VNCH đều là những người ăn thịt trẻ con, giết phu hiếp phụ. Tôi đã tin, và phải tin, vì ở trường và ở nhà, tôi đều được ấn vào đầu những điều như thế.

          Hai năm sau ngày đập bỏ bàn thờ ông Hồ, bố tôi qua đời. Đó là một sớm mùa Đông Tháng Mười Một Âm Lịch năm 2004 với cái lạnh tê tái, ngọt tận đến xương.

          Tôi dại. Khi bố tôi nhồi nhét đủ thứ mang danh những điều “tốt đẹp, kỳ diệu, vĩ đại” gắn với ông Hồ và đảng CSVN vào đầu óc non nớt của tôi, tôi tiếp thu rất nhanh. Tôi cứ tưởng bố tôi cũng phải dạy con cách từ bỏ Hồ Chí Minh và đảng CSVN giống như cách ông dứt khoát vứt xuống đất, để giúp tôi thôi trở thành kẻ sùng bái họ. Lẽ ra, tôi phải nhận thức được ngay, từ cái ngày ông đập bỏ bàn thờ Hồ Chí Minh với lời tuyên bố “Đừng bao giờ nhắc đến ông ta nữa,” hay những câu chửi tục “Đ.m. cộng sản,” “Đ.m. quân lừa đảo” khi nhìn thấy những lời tuyên truyền trên TV.

           Tôi vẫn tiếp tục yêu ông Hồ như thế, cho đến một ngày, tôi lôi tấm hình ông Hồ ra, tự tay xé nát thành từng mảnh vụn. Lúc ấy cũng vào một ngày mùa Đông năm 2006. Khi ấy, tôi vừa tròn 29 tuổi.

           Mọi thứ, đến chầm chậm với tôi, nhưng dứt khoát và mãnh liệt, qua những trang tin điện tử từ hải ngoại mà tôi phải vượt tường lửa mới tiếp cận được. Có một sự thật rất khác với cái được gọi là “sự thật” mà người ta muốn tôi, muốn cả dân tộc này phải tin.

          Tôi như trải qua một cơn bạo bệnh. Lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận một cách trọn vẹn dư vị của nỗi đắng cay khi biết, và nhận rõ mình bị lừa dối. Và cả sự xấu hổ, ê chề. Tôi chưa bao giờ thấy xấu hổ như thế cho dù không ai nhận ra cơn chấn động tinh thần của mình.

          Đa số, nếu không nói là tất cả người dân miền Bắc, nhất là thế hệ sinh sau năm 1975 như tôi, đều được nhồi sọ là phải tôn thờ Hồ Chí Minh, phải tin tuyệt đối vào “sự lãnh đạo tài tình của đảng.” Cho nên, khi tôi hòa mình vào đám đông im lặng – sản phẩm của sự nhồi sọ ấy, tôi là bạn. Ngược lại, khi tôi đứng lên cùng với sự thật, chính những con người đó đã kết án, đã chửi rủa tôi không chỉ riêng vì tội thôi sùng bái ông Hồ, mà là tội dám từ bỏ niềm tin cộng sản.

          Tôi thấy mình cần phải có một thái độ dứt khoát trước thời cuộc dù tôi chỉ là một đứa con gái còi cọc, nhát gan, nặng chưa đầy 36 kg và nhất là chữ nghĩa chẳng được bao nhiêu. Nếu tôi không làm gì, có lẽ thời cuộc cũng chẳng thèm giận hờn gì tôi cả. Tôi chỉ là một kẻ vô danh trên cõi đời này, thêm hay bớt thì nhân gian này vẫn thế.

           Nhưng tôi cần sám hối, cần xét đoán lại mình, đơn giản để được là chính tôi. Tôi phải tự thoát khỏi cơn mê, chui ra khỏi cái vỏ trứng để làm một sinh linh dù yếu ớt, nhưng nhìn thấy ánh sáng của sự thật và làm chứng cho sự thật. Quyết định ấy không phải sản phẩm của một cơn bốc đồng thời cuộc, sự nổi loạn của tuổi trẻ hay lòng tự ái bị tổn thương, đến ào ạt rồi tan biến để rồi chỉ còn sự tiếc nuối và sợ hãi. Bày tỏ thái độ trước thời cuộc đồng nghĩa với việc bị liệt vào danh sách “kẻ thù của chế độ,” để bước vào một cuộc đời khác đầy bão tố, chông gai và tù đày. Nhưng tôi được là chính mình.

            Tôi không bao giờ quên lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy những chú thương phế binh VNCH bằng xương bằng thịt tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn, vào cuối năm 2015. Đêm hôm trước, tôi rất hồi hộp vì sắp được gặp những con người mà mình từng nghĩ oan, từng được giáo dục là phải căm ghét và coi họ như những tội đồ của dân tộc. Lần thứ hai sau gần chục năm, ý nghĩ sám hối lại trở về với tôi.

           Tôi đứng lặng lẽ ở một góc của sân Hiệp Nhất trong nhà thờ, nơi tổ chức các buổi “Tri ân thương phế binh VNCH,” và khóc. Đầu tiên, tôi còn kìm được. Càng về sau, nước mắt càng tuôn ra, với những tiếng nấc cứ lớn dần lên. Một người bạn, là con của một cựu quân nhân VNCH chạy đến, ôm tôi. Cả hai chúng tôi cùng khóc. Chúng tôi khóc, không chỉ xót thương cho “những con người bị bỏ rơi hơn cả” trong chế độ cộng sản tàn ác này. Khóc, để xót thương cho một nửa đất nước từng phồn thịnh, tự do, đẹp đẽ đã bị bức tử bởi những kẻ man rợ nhân danh đủ thứ chủ nghĩa bệnh hoạn. Khóc cho sự ngu dại một thời của tôi, của biết bao người dân miền Bắc vẫn chưa có cơ may, hoặc chưa đủ dũng khí để làm một cuộc gột rửa bản thân đặng góp phần cứu nguy cho dân tộc.

          Quê hương Việt Nam quá dư thừa những nỗi đau. Còn nỗi đớn đau nào đau hơn khi phải chứng kiến cảnh triệu triệu đồng bào ăn mừng trên nỗi đau thương, bất hạnh của triệu triệu đồng bào khác cũng mang tên Việt Nam, vào mỗi dịp Tháng Tư về.

           Dẫu vậy, tôi vẫn tin, và hy vọng rằng ngày mai trên con đường đổi thay đất nước, sẽ rộn rã những gương mặt mà hôm nay rất có thể đang còn ngu dại như tôi thuở nào. Để không còn mang danh “Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm. Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi” (*). Ngày mai, sẽ rộn ràng như thế. [đ.d.]

                                                      ** ** ** **

Sunday, April 14, 2024

CÒN MỘT CHÚT GÌ. . . ĐỂ NHỚ

 

BÙI ĐỨC TÍNH

Ba mươi tháng Tư,
Lại nhớ đời ly hương
Xót xa đau, lặng yên nhìn sông núi
Sông núi quê người khác quê hương
Năm sang năm,
Cứ đến ngày oan trái
Thắp nén hương lòng để nhớ thương.

Đất nước tôi!

Việt Nam, từ tháng Ba 1975, người dân miền Nam cũng đã phải trả cái giá cho Tự Do bằng nước mắt và máu xương của chính mình; trong một cuộc chiến mà họ đã không bắt đầu, và cũng đã không mong muốn. Họ đã phải chiến đấu; chỉ vì không muốn mất những gì đã có, những gì là của mình. Họ không muốn mất Tự Do và đất nước miền Nam!
Từ tháng Ba 1975, đoạn đường chiến tranh đã vào một khúc quanh khốc liệt mà phía trước lại là ngõ cụt, không có lối thoát. Đất nước Việt Nam mình thì đã có biết bao chuyện về tháng Ba, chuyện Tháng Ba Gãy Súng, với lắm tang thương, lắm tủi nhục. Và rồi, dù là bị bắt buộc đi trình diện, hay bị bắt, bước đi với súng giặc kề lưng. Tất cả đều là tù binh! Làm tù binh đều là nhận cái sống, và đã không chết như chiến hữu, chết trong chiến trận…

Chương 2 Xuân Quê Hương của Thuyền Đời, có đoạn kể lại rằng:

Rời khỏi trại tù, về với gia đình đã mấy tháng nay; tôi vẫn còn lắm thứ ngỡ ngàng, lắm điều xa lạ. Phố xá, láng giềng, bây giờ không còn giống với những hình ảnh thân yêu trong ký ức; trước khi miền Nam bị mất, vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Đất nước mất chủ quyền. Nhân dân mất quyền tự do. Láng giềng thay chủ. Chủ mới là gia đình hay thân quen của những người phục vụ cho chế độ mới, chế độ cộng sản. Những người chủ cũ đã bị nhà cầm quyền cưỡng bức phải bỏ nhà cửa ra đi. Họ phải vào sống trong các vùng hoang sơ. Chốn lưu đày này có tên gọi hoa mỹ là “Vùng Kinh Tế Mới.” Những căn nhà nào coi được mắt đối với kẻ thắng cuộc, đã bị tịch thu với bất cứ lý do nào đó mà họ muốn, …

Xã hội cộng sản gông cùm đời sống, trói buộc tư tưởng người dân. Người quen, và người chưa từng biết nhau, cùng giống nhau ánh mắt tránh né, đầy e dè, sợ sệt. Người ta trông như đang mang những mặt nạ. Những mặt nạ có cùng một khuôn mẫu. Chúng giống nhau nét u uất với mệt mỏi, mất niềm tin, hết hy vọng ở tương lai. Chúng nó có cùng nụ cười gượng gạo, cười chào lấy có.

Thế nhưng, cái khung cảnh quanh tôi, bây giờ, lại có rất nhiều thứ quen thuộc, không khác chi mấy, so với thời còn trong lao tù; nơi mà chế độ cộng sản gọi là “trại cải tạo.” Bây giờ, quanh quẩn nơi đây cũng lá cờ máu, cũng chữ vàng trên băng vải đỏ, cũng cái đài phát thanh. Cái đài phát thanh của nhà nước the thé giọng đọc chanh chua, huênh hoang với những ngôn từ tuyên truyền lừa mị, kỳ dị, chướng tai… Chúng nó chí chóe châm chích màng tai dân chúng từ sáng sớm đến khuya tối. Nơi đây, bây giờ cũng thế, cũng đêm “họp tổ” để “kiểm điểm,” “đấu tranh,” “đấu tố” ...

Mang xác thân trở về nơi phố cũ
Phố xưa đây, sao vẫn thấy ngỡ ngàng
Màu cờ máu vây kín mù ước vọng
Tự do đây? ... sao như chốn lao tù!

Từ tháng 8 năm 1954, đồng bào miền Bắc đã bỏ quê nhà để lánh nạn cộng sản mà di cư vào miền Nam tự do, trong chiến dịch có tên là “Đường Đến Tự Do” (Operation Passage to Freedom.) Ngay cả sau khi đã hết hạn di cư vào Nam, đồng bào mình vẫn liều mạng sống, bằng đường bộ hoặc ghe thuyền; bằng mọi cách để trốn khỏi chế độ cộng sản ở miền Bắc. Đến đầu năm 1956, đã có đến 927.000 người di cư vào sống trong miền Nam tự do. Thế rồi năm 75, người đã tìm được tự do nơi miền Nam, lại phải trốn chạy cộng sản thêm lần nữa; phải vượt biên và vượt biển tìm tự do. Lắm người, hai mươi năm đã phải hai lần biệt xứ. Biết bao người còn bị lưu đày, ở ngay trên đất nước của mình. Người ra đi như kẻ bị lưu đày nơi xứ lạ. Triệu người đã không sống sót để ghi lại những trang sử đen hãi hùng, khi Nhân Quyền bị đảng cưỡng đoạt...

Trong lịch sử, người Việt Nam chỉ rời bỏ quê hương vì đã bị dồn vào cùng đường, không còn lối thoát nào khác hơn. Họ bỏ nước ra đi không phải vì chiến tranh! … Suốt 20 năm chiến tranh, người Việt đã vẫn ở lại trên đất nước Việt Nam để chiến đấu chống lại quân cộng sản, đã hy sinh để bảo vệ lãnh thổ và quyền tự do của miền Nam.

Cuộc di cư vĩ đại đã chỉ xảy ra sau khi Sài Gòn bị sụp đổ, sau khi dứt tiếng súng, đã hết chiến tranh. Đồng bào Việt Nam chỉ phải bỏ nước ra đi sau khi cộng sản chiếm trọn Việt Nam. Họ đã phải rời bỏ quê hương Việt Nam chỉ vì cùng đường, chỉ vì không thể sống dưới chế độ cai trị bạo tàn của cộng sản Việt Nam … Ðây còn là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại chọn được sống tự do; chống lại chế độ cộng sản bằng chính mạng sống của mình!”

Vì tự do hàng triệu đồng bào đã phải xa lìa quê hương!

Những người được Ơn Trên ban cho ơn phúc đến nơi an toàn và được định cư. Tất cả đều là những người may mắn. Điều may mắn nhất, đó là được làm người tự do, được sống như con người trên đất nước tôn trọng nhân quyền.

Tháng 4 lại trở về!

Mỗi năm vào tháng 4, khi hỏi lòng mình có còn nhớ, hay đã quên, hay không nên nhớ chi đến thuyền nhân, tỵ nạn… có lẽ lòng mình dù muốn hay không cũng phải nhìn nhận sự thật, dù có phũ phàng.

Cơn gió cũng có lúc đổi chiều!

Lòng người trải qua thời gian?

Nếu còn nhớ, thì chắc phải nhớ nhiều thứ lắm. Nhất là khi thấy thời gian chừng như đã qua nhanh hơn, càng tiếc và nhớ nhiều hơn. Nhớ và nuối tiếc những gì đã qua, đã mất mát. Thế nhưng, có những mất mát không gì thay thế được, mà thời gian cũng không thể mang vào quá khứ!

Sắp trọn 50 năm, nỗi đau, niềm nhớ vẫn là những vết thương đau của dân tộc đã chưa lành và sẽ không bao giờ lành; khi mà hàng năm, cứ vào ngày 30 tháng 4, quân cộng sản vẫn tàn nhẫn dẫm đạp lên mà nhảy nhót ăn mừng “Đại thắng mùa xuân.”

Bên cạnh nuối tiếc thường là ước mơ. Ước mơ của người tỵ nạn, thuyền nhân thì nhiều lắm. Ước mơ cho đất nước, dân tộc chừng như quá lớn lao, xa vời, để được nhìn thấy trong đoạn đời còn sót lại. Vòng thời gian đã không chậm lại, thoáng vụt qua. Gần 50 năm qua, lắm ước mơ chỉ vẫn là ước mơ, nói ra không biết có phải cũng là thừa và niềm vui tự do, hạnh phúc tan biến khi tỉnh giấc. Ước mơ chỉ đầy thêm tuyệt vọng! Có khi, chỉ mỗi một nguyện vọng được quỳ hôn đất thân yêu như trong hùng ca “Cờ ta bay trên Quảng Trị thân yêu,” mà gần 50 năm qua đi vẫn là ngàn trùng xa cách.

Miền Nam đã mất Sài Gòn.

Tùy lòng người khi quay trở về, và cho dù có mật ngọt đầu môi, Sài Gòn hôm nay đã không còn là Sài Gòn khi chưa bị mất tên.

Ta mất thật rồi, Sài Gòn xưa vĩnh viễn chôn vùi!



30 tháng 4, 2024

Bùi Đức Tính

Saturday, February 24, 2024

ĐI TÌM THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Từ lâu, tôi đã nghe nhiều, rất nhiều cụm từ “thế lực thù địch”. Nghe đến nhàm, nhưng chẳng ai chỉ giùm tôi, bởi nó vô hình. Vậy thì phải đi tìm thôi.

Tôi đã đi tìm thế lực thù địch từ những ngày hợp tác hóa, đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước, khi tôi còn ngồi trên ghế nhà trường xã hội chủ nghĩa.

Cái ngày mà tôi chưa phân biệt được chủ nghĩa Mác đúng sai thế nào.

Cái ngày mà khi có kẻng là xã viên hợp tác ra đồng, chờ phân việc, làm chiếu lệ vài giờ rồi về. Tối họp bình công chấm điểm thì cãi nhau om sòm, mà có nhiều nhặn gì đâu, giỏi lắm mỗi công một cân thóc. Để rồi “Ơi anh chủ nhiệm anh chủ nhiệm/ Hai tiếng thân yêu lời cảm mến/ Tay anh nắm chặt tay xã viên/ Xốc cả phong trào cùng tiến lên” đi vào trang sách học sinh theo thơ Hoàng Trung Thông.

Cái ngày mà khi thu hoach thì bố mẹ đi trước, con cái theo sau (gọi là đi mót) cướp hết những thứ ngon. Cuối buổi thu hoạch về sân kho hợp tác chỉ những đống lúa xơ xác, hoặc những đống khoai chạc khoai rễ. Để rồi “Dân làm chủ dập dìu hợp tác / Lúa mượt đồng ấm áp làng quê/ Chiêm mùa cờ đỏ ven đê/ Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn” đi vào trang sách học sinh theo thơ Tố Hữu .

Cái ngày mà đói triền miên, cả năm may ra có bữa no cơm và có thịt, đó là ngày tết. Để rồi “Những người lao động quang vinh/ Chúng ta là chủ của mình từ đây” đi vào trang sách học sinh theo thơ Tố Hữu.

“Chẳng nhẽ chủ nghĩa cộng sản lại thế này ư?” Từ thắc mắc đó tôi đọc “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” và “Chính trị kinh tế học”. Vì còn tuổi vị thành niên, nên dù nghi ngờ nhưng tôi chưa dám nghĩ Mác sai, nhưng ít nhất là ta làm sai Mác. Mác nói, đại ý “phải phân biệt vô sản và vô sản áo rách (bọn khố rách, áo ôm)”. Ta đã dùng “vô sản áo rách” trong CCRĐ. Ta đã cưỡng bức vào hợp tác xã, trong khi lẽ ra phải hoàn toàn tự nguyện. Trong “Chính trị kinh tế học”, theo Khơ rút sốp “có thể đoạt chính quyền bằng nghị trường”, còn theo Bregiơnhep “chỉ có thể đoạt chính quyền bằng bạo lực”, ta theo bạo lực. Tại sao lại phải dùng bạo lực? Tôi tự hỏi vì tôi đã đọc đâu đó “bạo lực là sản phẩm của phía yếu, bất tài và vô lực”. Tất cả những nhà cầm quyền theo chủ thuyết “sức mạnh chính trị nằm trên đầu nòng súng” đã đưa đất nước họ (trục phát xít) gục ngã. Sau gục ngã có thể họ bị yếu, có thể họ thuộc bài nên đã điều chỉnh hướng đi. Các nước theo trục chủ nghĩa xã hội lại tiếp tục theo vết xe đổ đó, để đến nay tan rã. Thảm thay!!!

Cái thời mà, thế hệ cha anh tôi, những người đã qua CCRĐ luôn thuộc nằm lòng câu “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” hoặc “chủ nghĩa cộng sản làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”.

Tôi vào đại học, vào bộ đội. Dù làm khoa học và công nghệ, nhưng tôi luôn tìm hiểu về chế độ, khi mà tuyên truyền và thực tế luôn ngược nhau. Tôi đọc mọi loại sách, từ các sách văn học, xã hội học và chính trị; tiếp cận với nhiều tầng lớp người từ cao xuống thấp, từ cổ đến kim. Do công tác đi đây đó nhiều, nhất là các công xưởng, lại sống hòa nhập nên tôi có điều kiện tiếp cận thực tế. Qua lý thuyết và thực tế tôi đã dần tìm ra thế lực thù địch. Đúng hơn là cái gì đã kìm hãm sự phát triển của nước.

Còn nhớ những năm cuối thập niên bảy mươi của thế kỷ trước có lần tôi nói với bố tôi (đang là cán bộ cao cấp) rằng “đảng sai bố ạ”, bố tôi rằng “đường lối đúng, thực hiện sai”. Đáp “lý thuyết đúng là tự nó đem lại tốt đẹp cho xã hội, ta chẳng làm được gì cả, sao gọi là đúng? Nói vậy là bao biện”. Bố tôi lặng im. Lại hỏi “một xã hội sẽ ra sao nếu trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ?” Rằng “câu hỏi đó đã được Gabriel García Márquez – chủ nhân của giải noben văn học 1982 đã hỏi trong một gặp gỡ các nhà văn Á - Phi - Mỹ La tinh, mà chẳng ai biết thế nào để trả lời”. Vài năm sau bố tôi nói “con đúng, bố sai – từ nay con thay bố giải quyết các việc trọng đại trong gia đình”. Cũng từ đó cho đến lúc lìa trần, ông dị ứng với vô tuyến, đài và báo chí (công cụ tuyên truyền) – những thứ mà trước đây là thực đơn hàng ngày của ông. Ông quay lại nghề tử vi, địa lý và kinh dịch – như là nghề gia truyền; nhưng khi đi theo đảng ông phải bỏ. Chính nghề này đã cứu ông cả vật chất, tinh thần và để lại nhiều ân đức trước khi qua đời.

Cuối những năm sáu mươi, đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước, khi người ta cơ cấu những cán bộ chính trị đi tập huấn một thời gian về làm hiệu trưởng các trường cấp 2 và 3, tôi như đã thấy manh nha một cái gì? Sau đó, khi “chuột chạy cùng sào, nhảy vào sư phạm”; tôi đã thấy rằng: “xã hội ta sẽ thê thảm khi những người học yếu nhất vào giáo dục”. Rồi cải cách giáo dục, như một sự tàn phá đất nước nhanh nhất. Mười lăm năm đi học không có ai dạy cho ta yêu bố mẹ, anh em cả; nhưng được dạy nhiều về lý tưởng cộng sản “vì lý tưởng cộng sản, thanh niên anh dũng tiến lên”. Phải chăng bỏ qua cái thực thể hữu hình, chạy theo cái vô hình kiểu “bỏ hình bắt bóng” là đặc trung nền giáo dục của chúng ta?

Rút cục ta đã đào tạo ra những thế hệ “ăn theo nói leo” là chính, ai không như thế được đội cái mũ “tiểu tư sản trí thức” ngay. Ta không dùng những người tài giỏi, nhưng lại coi trọng những người khôn vặt, láu cá nhiều mưu ma chước quỷ. Chính cái sự đào tạo và sử dụng người đã hủy hoại nhân cách của nhiều thế hệ.

Từ đầu những năm tám mươi của thế kỷ trước lại đây, tôi đã chứng kiến rất nhiều những cuộc chạy chức quyền, chia các vai quyền lực từ các bàn nhậu. Mấy chục năm công tác tôi thấy quá rõ kinh phí bôi trơn cho guồng máy, thông thường là 40% chi phí đầu tư, nhiều chỗ còn hơn. Kinh phí vào công trinh chỉ xấp xỉ một nửa. Đất nước không đổ nát mới là sự lạ.

Cách đây hơn năm thế kỷ Thân Nhân Trung đã viết:

"...Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết..."

Đất nước ta không đào tạo và sử dụng được hiền tài, chỉ dùng được những ai dễ sai bảo, biết ăn theo nói leo, thậm chí vô sản áo rách. Dùng hiền tài đâu có dễ, những người không tài làm sao sử dụng được hiền tài, các bậc hiền tài đâu chịu làm đầu sai. Những người có tri thức, biết được điều hay lẽ phải (tri là biết; thức là hay), sao lại có thể a dua theo bầy đàn không có tri thức dẫn lối? Trong hoàn cảnh ấy, hiền tài chỉ có hai con đường, hoặc vùng lên rồi bị diệt như “Nhân văn Giai phẩm” hay như “vụ xét lại chống đảng”. Hoặc co vào ở ẩn bất hợp tác như đa phần còn lại. Rút cục hiền tài không “can dự” được vào sự phát triển đất nước. Không phải vô cớ mà ở nước Đức có bia mộ ghi “ở đây đã an táng một người, mà người đó dùng được rất nhiều người tải giỏi”.

Vậy là “thế lực thù địch” của đất nước chính là sự ngu tối. Mà cái ngu là tổ phụ của cái ác, tàn phá đất nước hơn tỷ lần cái ác. Con đường cách mạng đất nước ta (mà đặc biệt là cách mạng phát triển xã hội sau năm 1975) đang đi là con đường thiếu ánh sáng tri thức soi đường. Để rồi sau bao nhiêu năm đi vào bóng đêm. Đất nước sau gần bốn mươi năm thống nhất tựa như đổ nát. Nạn tham nhũng tràn lan làm rỗng ruột kinh tế, tai nạn giao thông chết người như có chiến tranh, giáo dục lụn bại, nhân cách đạo đức suy đồi, kẻ thù truyền kiếp phương Bắc uy hiếp trên biên giới, rừng núi, biển đảo và đồng bằng. Cách mạng đâu phải là sự nghiệp của bầy đàn khố rách áo ôm kiểu “mo cơm quả cà đi xây dựng chủ nghĩa cộng sản”. Cũng do ngu tối mà từ ngày độc lập, chúng ta chưa tìm được con đường đi cho đất nước.

Không nghi ngờ gì nữa“thế lực thù địch” của đất nước chính là sự ngu tối, thế lực nào dung túng cho cái ngu, để cho cái ngu hoành hành thì đấy chính là thế lực thù địch của đất nước ta, dân tộc ta.

Thời nay ai thiết người tài
Chỉ cần tai tái, dễ sai hợp thời
Thằng thông minh nó lắm lời
Nó thuyết, nó giáo rối bời thằng ngu
Thằng ngu tuy có lù khù
Mưu ma chước quỷ nó bù thông minh
Sự đời nghĩ lại mà kinh
Nhân tình thế thái, rối tinh rối mù.

H.Q

Saturday, February 17, 2024

 


                                                 PHÂN ƯU

                 Khu Hội Cựu TNCT/VN/ Nam California nhận được tin buồn:

                                   Chiến hữu Gioan LẠI VĂN NG
                               Hội Viên Khu Hội Cựu TNCT/VN/NCA
            Đã được Chúa gọi về lúc 11:37 sáng Thứ Sáu ngày 09 tháng 02/2024
                                           Tại Anaheim - California.
                                                Hưởng thọ  82 tuổi
                  Linh cửu quàn tại PEEK FUNERAL HOME, Phòng số 1
                              7801 Bolsa Ave., Westminster, CA 92683
                    Giờ thăm viếng và cầu nguyện 4:00 chiều - 7:00 chiều
                                      Thứ Năm ngày 29 tháng 2/2024

             Thay mặt Khu Hội Cựu TNCT/VN/NCA thành kính chia buồn Bà quả phụ
             Lại Văn Ng cùng tang quyến. Nguyện cầu linh hồn C/h Gioan Lại Văn Ng 
sớm được hưởng nhan Thánh Chúa.
Ban Cố Vấn, Ban Giám Sát, Ban Chấp Hành & Toàn thể Hội Viên Khu Hội Cựu TNCT/ NCA

                                     ĐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

                                Little Saigon, ngày 16 tháng 2 năm 2024

                                              Hội Trưởng Khu Hội

                                          NGUYỄN HỮU THẮNG
 
  P/s: Tất cả thành viên Khu Hội CTNCT/VN/NCA có mặt tại Peek Funeral Home lúc 4.00 PM.
         Ngày 29/2/224. Để cùng thăm viếng và chia buồn với G/đ Chiến hữu Lại Văn Ngọ. 


Sunday, February 11, 2024

HỘI CHỢ TẾT SINH VIÊN NĂM GIÁP THÌN 2024 TẠI NAM CALIFORNIA

Sau đây là một số video ghi nhận trong ngày thứ hai của hộ chợ Tết sinh viên Giáp Thìn 2024

19 THÁNG 8 NĂM 1945: CÁCH MẠNG HAY VIỆT MINH CƯỚP CHÍNH QUYỀN?

  Giáo Sư Phạm Cao Dương   19 tháng 8, 1945, Việt Minh Cướp Chính Quyền. Nguồn internet. Dù trong nước mườ...