Ông
Nguyễn Hữu Cầu (1947-2022) mặc quân phục Việt Nam Cộng Hòa với lon Đại
Úy vài ngày sau khi được thả ra khỏi nhà tù vào năm 2014. Ông đã bị giam
tổng cộng 37 năm tù, phần lớn vì tội tố cáo các cán bộ cộng sản đã hãm
hiếp các nữ thuyền nhân năm 1981. (Creative Commons)
Ông Nguyễn Hữu Cầu, cựu đại úy trong quân đội
Việt Nam Cộng Hòa, bị Cộng Sản Việt Nam cầm tù 37 năm, vừa qua đời tại
quê quán Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, hưởng thọ 75 tuổi. Nguồn tin của báo
Dân Việt hôm thứ Hai, 19 tháng 12, không ghi rõ ông Cầu mất ngày nào.
Ông Nguyễn Hữu Cầu sinh năm 1947, từng là cựu
đại úy Chủ Lực Quân, xuất thân khóa 6/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, ra
trường về phục vụ tại Tiểu Khu Quảng Nam, thuộc vùng 1 chiến thuật -
quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Ông Cầu bị bắt làm tù binh sau khi vùng 1
chiến thuật thất thủ vào đầu tháng Tư, 1975. Sau ngày 30 tháng 4, 1975
khi miền Nam sụp đổ, ông bị chuyển từ tù binh sang tù học tập cải tạo.
Đến cuối năm 1980, sau hơn 5 năm bị tù cải tạo, ông được thả về nhà lần
đầu.
Sau đó, vì làm đơn tố giác hai cán bộ đảng
viên của tỉnh Kiên Giang hãm hiếp một số nữ thuyền nhân, ông bị đưa ra
xét xử vào năm 1983 và bị kết án tử hình với tội danh “Chống phá nhà
nước CHXHCN Việt Nam.” Khi đó “bằng chứng” được đưa ra trong tòa là
những bài thơ và ca khúc do ông sáng tác.
Sau khi xử phúc thẩm năm 1985, bản án được
giảm xuống thành tù chung thân đày biệt giam ở khu tù chính trị biệt
giam, phân trại K2, Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai.
Trải qua nhiều năm bị giam cầm, ông luôn giữ
vững lập trường, cương quyết không nhận tội, không xin ân xá trước một
bản án mà ông cho là vô lý.
Sau chuyến thăm tù lần đầu tiên được biết mặt
ông nội của mình vào năm 2013, cháu gái Trần Phan Yến Nhi, 14 tuổi, đã
viết thư gởi Ủy Ban Theo Dõi Nhân Quyền Quốc Tế (Human Rights Watch),
lên tiếng kêu cứu và xin thế thân đi tù thay cho ông nội.
Dưới áp lực của Ủy Ban Theo Dõi Nhân Quyền,
báo chí quốc tế, và do sức khỏe của ông ngày càng suy giảm: tim yếu, tai
gần như điếc, một mắt bị mù lòa không còn thị lực, cuối cùng ông đã
được nhà cầm quyền trả về nhà vào 9 giờ tối ngày 21/3/2014. Ông đã ở tù
tổng cộng 37 năm trong nhà giam của chế độ cộng sản.
Trong thời gian ở tù, ông cải sang đạo Công
Giáo vào năm 1986. Người rửa tội cho ông là linh mục Nguyễn Công Đoan
trong cùng trại cải tạo.
Ngoài tội danh chống phá, bản cáo trạng trong
phiên tòa xét xử ông, dựa vào bài “Giọt Nước Mắt Chúa” do ông sáng tác,
viết rằng: “Tên Nguyễn Hữu Cầu đã sáng tác ra bài hát Giọt Nước Mắt Chúa
với ý thức còn mơ tưởng đến sự trở lại của Mỹ, tên Cầu đã ví đế quốc Mỹ
như là cha để cầu xin bơ thừa sữa cặn.”
Tại sao bị tù 37 năm?
Trên trang Facebook cá nhân, Văn Toàn và Ngoc
Nhi Nguyen từng viết vào năm 2016, dựa theo “Chuyện do chú nhà văn Võ
Văn Tạo, bạn của chú Cầu kể lại” như sau:
“Tại sao Đại úy Nguyễn Hữu Cầu bị tù đến hơn 37 năm?
“Ông Nguyễn Hữu Cầu , sanh năm 1947 tại Kiên
Giang , vốn là một đại úy trong QLVNCH. Sau năm 1975, ông bị đi đưa học
tập cải tạo, có nghĩa là đưa đi tù trong 5 năm .
“Ra tù, ông Cầu trở về quê hương mới được mấy
tháng thì ông chứng kiến hai cô gái miền Tây đi vượt biên bị bắt, bị
công an và đám Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang hãm hiếp.
“Lúc chúng thả hai cô ra , máu còn chảy ướt
đũng quần. Hai cô gái đau đớn nghẹn ngào khóc ngất bên đường thì gặp ông
Cầu. Nghe câu chuyện thương tâm, ông phẫn nộ liền viết đơn tố cáo tội
ác của đám quan chức địa phương CS .
“Vào năm 1981, VN chưa mở cửa, miền Nam còn
chìm đắm trong sự khủng bố và hành hạ của CS, với chính sách kỳ thị coi
người dân miền Nam như nô lệ, như súc vật muốn bắt là bắt muốn hiếp là
hiếp để gieo rắc sự sợ hãi tận cùng, hòng dễ bề cai trị.
“Vì vậy khi ông Cầu dám tố cáo Phó chủ tịch Ủy
Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang và kiện cả Viện trưởng Viện Kiểm Sát đã ăn
hối lộ giấu nhẹm vụ hãm hiếp hai cô gái này, thì ông bị bắt, bị kết tội
chống phá nhà cầm quyền CS và bị kết án tử hình.
“Người mẹ già của ông Cầu chạy ngược chạy xuôi
kháng án, cuối cùng được giảm từ tử hình xuống chung thân. Vào tù, cứ
cách vài năm thì quản giáo lại dụ ông nhận tội, nói rằng ông nhận thì sẽ
thả sớm. Nhưng ông Nguyễn Hữu Cầu cương quyết không nhận, nói rằng “tôi
tố cáo tội ác đó là đúng.”
“Cứ thế mà bị giam đến 37 năm.
“CS luôn miệng lên án Mỹ Ngụy độc ác trong
chiến tranh, vậy còn tội ác tày trời của CSVN đối với người dân trong
thời bình, như câu chuyện của ông Cầu, thì sao? Ai chịu trách nhiệm? Ai
xin lỗi? Ai đền bù?”
Trẻ
em thắp nến tưởng niệm hàng triệu nạn nhân đã chết trong nạn đói
1932-33 Holodomor tại Ukraine, tại thành phố Lviv, ngày 26 tháng 11,
2022. (Yuriy Dyachyshyn/ AFP via Getty Images)
Bài NGÔ NHÂN DỤNG
Mỗi năm, đến tuần lễ thứ tư tháng Mười Một, ngày thứ
Bảy, dân Ukraine lại thắp nến đặt trên bờ cửa sổ. Nghi lễ này bắt đầu từ
năm 1991 khi Ukraine tách ra khỏi Liên Bang Xô Viết. Mục đích là tưởng
niệm những nạn nhân chết đói trong những năm 1932, 1933 do chính sách
bóc lột của Stalin gây ra.
Năm nay, Bộ Ngoại Giao Ukraine nhân dịp này đã tố cáo
chính phủ Nga đang tái diễn tội ác thời Xô Viết: “Cuộc chiến xâm lăng
diệt chủng hiện nay cũng nhằm những mục tiêu như thời 1932-1933: Tiêu
diệt dân tộc Ukraine!”
Theo Tổng Thống Volodymyr Zelensky, “Vladimir Putin
đang dùng nạn đói như một vũ khí tấn công Ukraine” khi phóng các hỏa
tiễn vào các khu dân cư, đánh phá hạ tầng cơ sở, hệ thống giao thông và
các nhà máy điện trong khi mùa Đông đang tới; cho dân Ukraine chết đói
chết rét như thời Stalin.
Zelensky cho biết 17 quốc gia trên thế giới đã công
nhận nạn đói 1932-1933 do Stalin gây ra tại Ukraine là một “tội diệt
chủng” (genocide), như người Ukraine gọi tên tai họa này là “Holodomor.”
“Holodomor,” trong ngôn ngữ Ukraine ghép hai chữ
holod, nghĩa là nạn đói, và mor, là cơn đại dịch. Tên gọi này chỉ được
dùng sau khi Liên Xô theo chính sách Cởi Mở (glasnost) thời Gorbachev
nới lỏng quyền tự do phát biểu. Năm 1987, Bí Thư Thứ Nhất Đảng Cộng Sản
Ukraine đã dùng chữ Holodomor lần đầu, trong bài diễn văn kỷ niệm 70 năm
sau Cách Mạng 1917. Năm sau, Oleksiy Musiyenko, trong hội nhà văn
Ukraine lập lại, từ đó ai cũng dùng theo. Người Ukraine dùng động từ
moryty (морити) với nghĩa là đầu độc, là tra tấn hay làm cho kiệt quệ.
Từ Holodomor được phổ biến rộng rãi khắp thế giới; tháng Hai năm 2021
một vở kịch mang tên Holodomor đã được trình diễn ở Tehran, thủ đô Iran.
Năm 1932, Joseph Stalin hoàn tất chương trình “tập
thể hóa nông nghiệp” trong Ukraine, cũng như các nước Cộng Hòa khác.
Ukraine là nước sản xuất nhiều lúa mì nhất trong Liên Bang Xô Viết, cho
nên bị đặt chỉ tiêu phải đóng góp nhiều nhất. Stalin tin rằng các nông
trường tập thể phải sản xuất nhiều hơn thời kỳ tư nhân canh tác, không
ai dám nói sự thật rằng số nông sản đã tụt giảm. Tháng 11, Stalin ra
lệnh trưng thu tất cả lúa mì, kể cả hàng trăm ngàn tấn thóc để giành làm
hạt giống cho năm sau, vì ông ta nghi ngờ nông dân thế nào cũng cất
giấu. Mùa Đông tới, mỗi ngày có 28,000 người dân Ukraine chết đói, xác
nằm ngay trên lề đường tại các thành phố Kyiv, Kharkov.
Các sử gia ước tính tổng cộng từ 3.5 triệu đến 5
triệu người Ukraine đã chết đói. Nhiều người còn cho rằng Stalin đã
“hoạch toán,” biết trước nạn đói xảy ra nhưng cứ thi hành với mục đích
tiêu diệt phong trào đòi độc lập của dân Ukraine. Sử gia Timothy Snyder,
Đại học Yale, nói với bản tin Reuters ngày 26 tháng 11, 2022, gọi đó là
một “âm mưu giết người tập thể.”
So sánh với Ukraine thì số phận dân Việt Nam còn may
mắn hơn nhiều. Cùng theo chế độ Marx Lenin nhưng Việt Nam không bị Cộng
Sản Trung Quốc trực tiếp cai trị, nhờ có Liên Xô đứng cản trở.
Tuy nhiên Trung Cộng cũng gián tiếp gây ra nạn đói và
chết chóc ở nước ta. Các cố vấn Trung Cộng chỉ huy cuộc Cải Cách Ruộng
Đất giết hại hàng trăm ngàn người, kể cả những người từng ủng hộ Việt
Cộng. Sau năm 1975, Lê Duẩn trở mặt chống Trung Cộng để liên kết với
Liên Xô; nhưng vẫn “học tập Mao Chủ tịch” với một kế hoạch “tập thể hóa
nông nghiệp” phỏng theo Công Xã Nhân Dân của Mao Trạch Đông. Duẩn bắt
đầu thi hành chính sách này, lấy “quê hương cách mạng” ở miền Bắc Trung
phần làm thí điểm. Đó là nơi Cộng Sản Việt Nam đã thí nghiệm tổ chức Xô
Viết Nghệ Tĩnh thời 1930. Năm 1978, dân nhiều làng ven núi ở Thanh Hóa,
Nghệ An được lệnh xóa bỏ các ngôi nhà ở để tăng số đất canh tác. Thanh
niên, học sinh được huy động đi phá nhà đồng bào, đem giường, chiếu, nồi
niêu soong chảo lên sườn đồi, dựng chòi làm chỗ ở. Kết quả là nhiều
người bắt đầu phải nhịn đói.
May mắn cho dân Việt Nam là khi Trung Cộng xua quân
đánh vào các tỉnh biên giới, Lê Duẩn phải ngưng thúc đẩy kế hoạch “tập
thể hóa.” Các cán bộ địa phương, nhìn tận mắt thấy những hậu quả thảm
khốc, nhân cơ hội Bộ Chính Trị bận lo đối phó cuộc chiến tranh biên
giới, đã từ từ ngưng thi hành rồi cho cả kế hoạch “Mao ít hơn Mao” này
chìm xuồng! Nếu còn tiếp tục, chỉ trong một vài năm không biết nạn đói
sẽ giết bao nhiêu người! Chiến dịch “dạy cho Việt Cộng một bài học” của
Đặng Tiểu Bình đã vô tình cứu sống hàng trăm ngàn người Việt thoát nạn
chết đói.
Nhưng Việt Nam chỉ may mắn hơn Ukraine trong một vụ
thoát chết đói đó thôi. Năm 1991 Ukraine may mắn hơn Việt Nam vì đã
thoát khỏi chế độ cộng sản khi Liên Xô tan rã. Đế quốc Trung Cộng chưa
tan, thì Việt Nam còn phải chờ lâu! Hiện nay thì người Việt lại thấy
mình may mắn hơn vì không bị lâm vào cảnh chiến tranh!
Mỗi dân tộc sống với cái “nghiệp” của mình, nhưng
người Việt vẫn thích so sánh. Thí dụ, một vị giáo sư Đại Học Bách Khoa
tôi mới gặp trong Mùa Hè vừa qua. Ông giáo sư này đã đi công tác ở nhiều
nước, từ Nga tới Mỹ, nên tôi có dịp ngồi cùng bàn ăn với ông. Tôi không
muốn nói rõ trường Bách Khoa nào, vì chắc cũng không khác gì nhau.
Có lúc câu chuyện nói đến chiến tranh Ukraine, ông
giáo sư kể lại rằng ngày xưa khi đến Ukraine ông khâm phục vô cùng. Ở
Kyiv, ông thấy những cao ốc nhiều tầng không thua kém gì Moscow hay New
York. Nhưng, bây giờ thì ông thấy nước Ukraine cũng thường, chẳng hơn gì
nước mình. Bởi vì, các thành phố như Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng cũng đầy
rẫy nhà trọc trời!
Sau khi nghe lời ông giáo sư nói, tôi đã hỏi ông một
chuyện thời sự. Ông có biết quân Ukraine mới đánh chìm chiếc tàu chiến
mang tên Mátx Cơ Va (Moskva) hay không? Ông biết chứ, soái hạm Moskva
của hạm đội Hắc Hải bị đánh đắm ngày 14 tháng Tư năm 2022.
Đó là chiếc soái hạm đầu tiên của đế quốc Nga bị đánh chìm kể từ trận hải chiến Nga-Nhật ở eo biển Đối Mã năm 1905.
Ông có biết quân Ukraine đã dùng hai chiếc hỏa tiễn
Neptune R-360 bắn trúng Moskva hay không? Sau khi ông giáo sư gật đầu,
tôi nói thêm: con tàu chiến Moskva đã được chế tạo từ thời còn Liên Bang
Xô Viết, ở thành phố Mykolaiv thuộc nước Ukraine, trên bờ sông Bug chảy
ra Hắc Hải. Những hỏa tiễn Neptune cũng do người Ukraine sáng chế.
Người Ukraine chế tạo được những chiếc tàu thủy lớn
như thế, những hỏa tiễn mạnh như thế. Nước Việt Nam mình có làm được hay
không? Mấy năm trước, công ty Sam Sung của Đại Hàn, đang lắp ráp các
điện thoại ở nước ta, đã đề nghị Việt Nam cung cấp một thứ đinh ốc để
lấy tiếng có dự phần sản xuất. Không có xí nghiệp nào ở nước ta sẵn sàng
để làm thứ đinh ốc đó. Nào, mời chư vị quân tử, xin lỗi, mời các đồng
chí, chúng ta cùng nâng ly!
Vietnam-Ngo Dinh Nhu:" l'affaire bouddhiste et
l'affaire des étudiants ont été montées de toutes pieces et répercutées
de facon orchestrée et puissante pour intoxiquer l'opinion interieure
comme l'opinion internationale contre le gouvernement du Sud Vietnam
parce que ce gouvernement combat le communisme et parce qu'il refuse
d'être un gouvernement puppet".1963 French TV.
Lodge hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Đào Văn
Cali Today News – Bài viết trước theo Tướng Westmoreland:”…
tôi không bao giờ được quyền đế cắt đứt con đường này (HCM) dù chúng
tôi dư sức làm điều đó, vì con đường này là mạch sống của địch quân và
việc cắt đứt con đường này sẽ giảm thiểu các chiến lược của chúng tôi rất nhiều”.«Calitoday
27.8.2022» . Vậy mục tiêu CHIẾN LƯỢC của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam
là gì? Để trả lời, loạt bài này , người viết sẽ dựa vào các tài liệu
liên quan đến chiến tranh Việt Nam đã được Văn khố Quốc gia giải mật
(NARA) thuộc chính phủ Kennedy, phổ biến trên thư viện online của
BNG/FRUS, cộng với tài liệu của cơ quan CIA giải mật và phổ biến từ năm
2015 -2019 liên quan đến cuộc chiến Việt Nam để rộng đường dư luận.
✱ TBT đảng Khrushchev lên tiếng kêu gọi phát động chiến tranh giải phóng để chống lại đế quốc Mỹ
Trong cuộc chiến vừa qua, quân và dân
miền Nam Việt Nam không thua vì thiếu tinh thần và khả năng chiến đấu,
mà thua vì Mỹ đã dùng chiến tranh Việt nam để chia rẽ khối cộng
sản, theo Asian Affairs: ” làm rạn nứt quan hệ giữa Liên Xô và Trung Cộng” –“Trong suốt thập niên 1960, sự
cay đắng của mối thù Trung-Xô không có khả năng hòa giải đã sớm là yếu
tố quan trọng khiến cho Hoa Kỳ quyết định can thiệp quân sự vào Việt Nam –
the bitterness of the Sino-Soviet feud and the unlikelihood of early
reconciliation constituted an important factor in the US decision to
intervene militarily in Vietnam”.–Asian Affairs: An American Review,Volume 6, 1978: Vietnam and the Sino-Soviet Rival.
Vì vậy nhằm thực hiện mục tiêu ” chiến lược” để chống Liên Xô, Mỹ đã viện nhiều lý do để lật đổ nền Đệ Nhất VNCH (1963) để hoàn thành mục tiêu… vì Ông “ Diem said he wanted no U. S. combat troops for any mission.”«Calitoday 27.9.2022». Và 12 năm sau, 1975 nền đệ Nhị VNCH bị hy sinh cũng vì mục tiêu ” làm rạn nứt quan hệ giữa Liên Xô và Trung Cộng”…
Năm 1960, tại đại hội
đảng lần thứ 81 tại Moscow, theo tổ chức Marxists Org, TBT đảng
Khrushchev lên tiếng kêu gọi phát động chiến tranh giải phóng để chống
lại đế quốc Mỹ, đồng thời thông báo ” Một phong trào dân
tộc giải phóng, nhằm trực tiếp chống lại đế quốc Mỹ và những kẻ làm tay
sai của chúng, đang phát triển ở Nam Việt Nam và Lào -A
national-democratic movement, directed against the U.S. imperialists and
their flunkeys, is developing in South Vietnam and Laos”. Tuyên bố của TBT Khrushchev 1960, phổ biến trên Marxists Org: Statement Of 81 Communist And Workers Parties Meeting In Moscow, Ussr 1960 – Sau đó tại Việt Nam, Mặt Trận DTGPMNVN ra đời vào ngày 20.12.1960.
✱ Mỹ dùng miền Nam Việt Nam thay vì Lào làm nơi chống lại chủ nghĩa cộng sản ở châu Á
Theo BNG – Cũng trong năm 1961, về chính
sách đối ngoại của TT Kennedy: “Vào tháng 6 năm 1961 tại Hội nghị
thượng đỉnh Vienna với Thủ tướng Liên Xô Nikita Khrushchev, Kennedy
không chuẩn bị trước và dường như bị lép vế. Tiếp theo, các tuyên bố
cứng rắn của Kennedy về Liên Xô ở Berlin không cải thiện được tình hình —
Ngược lại Liên Xô đã cho xây dựng Bức tường Berlin. Cuối cùng, quyết
định củaông không vạch ra đường lối chống lại chủ nghĩa cộng sản ở Lào, như Chính quyền Eisenhower đã thúc giục, trái lại dùng miền Nam Việt Nam làm nơi chống lại chủ nghĩa cộng sảnở châu Á– Finally,
his decision not to draw the line against communism in Laos, as the
Eisenhower Administration had urged, left South Vietnam as the place to
fight communism in Asia”. Theo BNG History State Gov: Kennedy’s Foreign Policy
✱ Mỹ ngừng không gây áp lực đối với Diệm về việc thi hành CIP từ tháng 5 năm 1961.
Năm 1961 về phía Mỹ, nhằm chống lại Liên
xô qua chiến tranh giải phóng, ngay sau khi nhậm chức vào tháng
1.1961, TT Kennedy phát động chiến tranh chống nổi dậy, chống giải phóng
qua chính sách mang tên – Counter Insurgency Progam / CIP , nhưng để
thi hành CIP, Mỹ muốn mang quân đội Mỹ đến trực tiếp tham chiến tại
Việt Nam – Theo NARA – Chính phủ Đê I VNCH từ chối không cho quân đội
Mỹ vào tham chiến tại Việt Nam «Calitoday 27.8.2022».
Theo tài liệu Ngũ Giác Đài (The Pentagon
Papers) được phổ biến trên NARA online. Từ tháng 5.1961 đến tháng
11.1963, tức khoảng thời gian 30 tháng TT Diệm không chấp nhận thi hành
chương trình CIP do Mỹ đề xướng, vì trong đó buộc phải chấp thuận cho
quân đội Mỹ vào Việt Nam tham gia cuộc chiến -“When Diem talked of
his worries about U.S . policy in Laos, Johnson, obviously acting
on instructions, raised the possibility of stationing American
troops in Vietnam or of a bilateral treaty. But Diem wanted
neither at that time”. Vì thế ” Các cuộc đàm phán với
Diệm (về CIP) đã kết thúc vào tháng 5 (1961), không phải vì vấn đề đã
được giải quyết, mà vì Mỹ quyết định ngừng một thời gian không gây áp
lực đối với Diệm – Negotiations with Diem came to an end
in May, (1961) not because the issues had been resolved, but
because the U. S decided to forget trying to pressure Diem for
a while”. Và vì vậy tổng thống ” Kennedy không còn có cơ hội để xem xét lại quyết định của mình về việc gửi quân đội tham chiến”– Kennedy never had occasion to reconsider his decision on combat troops (Theo NARA trang 5/197)- và không có lý do để xem xét lời khuyên của Galbraith về việc loại bỏ Diệm cho đến cuối năm 1963 –
and no urgent reason to consider Galbraith’s advice on getting rid of
Diem until late 1963″ – Theo NARA- Pentagon-Papers-Part-IV-B-1, trang
10/197: …getting rid of Diem until late 1963.pdf.
✱ France TV/NĐ Nhu: Ông Diệm từ chối làm chính phủ bù nhìn
Theo phim tài liệu có tên “ Histoire
du Vietnam Henri de Turenne” của Pháp – Vào tháng 10.1963, trên
truyền hình Pháp ông Ngô Đình Nhu lên tiếng cáo buộc Mỹ “dàn dựng” (de
facon orchestrée) nhằm tạo ra “lý do” để chống chính quyền Ngô Đình Diệm: ” Vụ Phật giáo và vụ sinh viên bị thổi phồng đã được dàn dựng (de facon orchestrée) và loan truyền rộng rãiđể
đầu độc dư luận trong nước và quốc tế nhằm chống lại chính phủ miền Nam
Việt Nam, … vì Ông ta từ chối làm chính phủ bù nhìn (et parce qu’il refuse d’être un gouvernement puppet” ) . Kèm trích đoạn phim tài liệu TV Pháp phỏng vấn ông NĐ.Nhu: …refuse d’être un gouvernement puppe .
Trong quá khứ báo chí Việt Nam đã bàn
nhiều đến vấn đề “hòa giải Nam – Bắc 1963”, phần sau người viết tóm lược
tài liệu từ phía Mỹ. Gồm tài liệu của Hội Đồng An Ninh quốc gia, NARA
giải mật được phổ biến trên thư viện online của Bộ Ngoại Giao/
FRUS, và tài liệu của cơ quan CIA giải mật công bố năm 2016 về sự kiện
này, nhưng trước hết xin lược qua tài liệu của cơ quan CIA và báo chí
tiếng Việt liên quan đến tiêu đề.
✱ Ông Ngô Đình Nhu bí mật gặp ông Phạm Hùng ở khu rừng Tánh Linh
Theo trang web Việt Thục Ông Cao Xuân Vỹ kể Việc Ông Ngô Đình Nhu Bí Mật Gặp Ông Phạm Hùng Ở Khu Rừng Tánh Linh, Bình Tuy
Hỏi: Khi ông cùng ông Nhu đi gặp Phạm Hùng ở Bình Tuy, ông Nhu có cho ông biết hai người họ bàn chuyện gì không?
Đáp: Lúc ấy thì không.
Chỉ biết chúng tôi cùng đến Quận Tánh Linh ở đây có một vùng do Cộng
quân kiểm soát. Ban đầu cứ tưởng đi săn cọp như mọi khi. Nhưng đến nơi
ông Nhu bảo chúng tôi ở ngoài, còn ông đi về phía trước độ vài trăm mét.
Có Phạm Hùng chờ ở đó. Sau này về nhà tôi cũng không tiện hỏi ông Nhu.
Nhưng qua những gì ông tự ý nói ra vào một lúc nào đó thì, nội dung câu
chuyện trên một tiếng đồng hồ, gồm nhiều điều cho đến nay vẫn chưa được
tiết lộ. Có một điều mà phía họ rất quan ngại, nếu không bảo là sợ,
rất sợ chương trình Ấp Chiến Lược. Họ yêu cầu cho biết ai là người chủ
trương và mục đích để làm gì? Ông Nhu trả lời: đó chỉ là một chủ trương
của chính phủ nhằm bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, ngăn ngừa
sự xâm nhập, phá phách của du kích các ông… Các ông bảo cán bộ đừng tìm
cách đánh phá làng xã, thì chúng tôi sẽ bỏ luật 10/59. Cán bộ các ông có
thể về sống với dân lành tại các ấp…
Về các điều kiện để hiệp thương thì nhiều lần Tổng Thống Diệm đã nói, phải có 6 giai đoạn:
– Bắt đầu bằng việc cho dân hai miền trao đổi thư tín tự do.
– Rồi cho dân qua lại tự do
– Thứ 3 là cho dân hai bên được tự do chọn đinh cư sang bên kia nếu muốn
– Thứ 4 mới đến giai đoạn trao đổi kinh tế. Ví dụ miền Nam đổi gạo lấy than đá của miền Bắc chẳng hạn.
– Qua được các giai đoạn đó rồi mới tiến tới hiệp thương.
– Và sau cùng là tổng tuyển cử.
Có lần ông Nhu tính với chúng tôi: Ông
dự đoán rằng, nếu cho dân tự do chọn nơi định cư, thì căn cứ theo tình
trạng về tự do dân chủ tồi tệ và kinh tế kiệt quệ của miền Bắc lúc ấy,
sẽ có khoảng 3 triệu người dân sẽ dần dần vào định cư ở miền Nam. Vì vậy
“mình” phải chuẩn bị đất cho dân. Ông cũng tính rằng hiện dân số miền
Bắc có tới 23 triệu, trong khi dân số miền Nam chỉ có 17 triệu. Nếu có
được 3 triệu dân Bắc vào định cư ở miền Nam thì dân số 2 bên sẽ cân
bằng. Bầu cử tự do, với sự giám sát của Quốc Tế thì chắc mình sẽ thắng.
Hỏi: Lần ông tháp tùng
ông Nhu đi dự lễ đăng quang của quốc vương Ma-rốc năm 1962, ông có cho
biết là sau đó các ông đến Paris gặp ông Pinay, đại diện Tổng Thống
Charles De Gaulle, bàn chuyện hiệp thương với ông Hồ. Lúc ấy có mặt giáo
sư Bửu Hội không?
Đáp: Dĩ nhiên là có. Vì
Giáo sư Bửu Hội là đại sứ của VNCH ở Ma-rốc, và là bạn học với ông Nhu ở
bên Pháp. Ông Bửu Hội lại từng là cố vấn cho Hồ Chí Minh. Nên trong
việc này, có thể nói vai trò của ông Bửu Hội cũng quan trọng không kém
ông Nhu. Ông Nhu và chúng tôi ở khách sạn Grillon cả tháng. Cuộc tiếp
xúc xảy ra nhiều lần mà hầu như lần nào cũng có sự hiện diện của giáo sư
Bửu Hội. Ông Nhu cho biết lúc ấy ông Hồ Chí Minh đã nhờ ông Jean
Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle giúp. Ông Hồ biết là ông De Gaulle
đang có chủ trương trung lập Đông Dương, lại hận Mỹ đã “hất cẳng” Pháp.
Ông Hồ nhờ Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle can thiệp để tiếp xúc với
Sài Gòn. Tổng Thống Pháp rất sốt sắng trong việc này. Sau chuyến đi này
ít tháng thì xảy ra vụ ông Nhu “đi săn cọp” ở Tánh Linh”.[1]✱ CIA: Ông Nhu muốn giảm số lượng cố vấn Mỹ tại Việt Nam (3.1963)
Theo bản văn trên thư viện online của CIA thiết lập ngày 11 tháng 3 năm
1963, và phổ biến trên thư viện online CIA ngày 14.12.2016.
“Tư tưởng chống Mỹ của Ngô Đình Nhu, em trai Tổng thống Diệm và là cố vấn chính trị của Tổng thống Diệm, trở nên sắc bén.
Gần đây, Nhu được cho là đã tuyên bố
rằng quân đội Nam Việt Nam ngày càng chịu ảnh hưởng bởi các cố vấn Mỹ và
chủ yếu là thực hiện chính sách của Mỹ-South Vietnam’s army has come
increasingly under the influence of American advisers and is carrying
out primarily American policy..”[ Bị xóa 1 dòng ] vì số lượng lớn người
Mỹ ở miền Nam Việt Nam và đất nước lệ thuộc vào viện trợ của Mỹ-and the
country’s dependence on American aid đã tạo cho Cộng sản một lợi thế
tuyên truyền-provided the Communists a propaganda advantage, cho nên tất
cả những người Mỹ không cần thiết phải được rút đi -all Americans not
absolutely essential should be withdrawn.
Nhu thường xuyên nhắc lại những lời chỉ
trích gay gắt chính phủ, đặc biệt là từ phía báo chí Mỹ. Ông ta và có
thể cả Diệm, vẫn nghi ngờ rằng người Mỹ đã tham gia vào âm mưu đảo
chính năm 1960-He, and possibly Diem as well, still suspect
that Americans were involved in the 1960 coup attempt và vào vụ đánh
bom dinh độc lập năm 1962-and the 1962 palace bombing, và rằng một số
quân đội chịu ảnh hưởng của Mỹ có thể một lần nữa âm mưu lật đổ chế
độ hiện tại-and that an American influenced army may again attempt to
oust the present regime..
Nhu được cho rằng chính phủ Diệm nên
đặt sức mạnh của mình vào các ấp chiến lược và các lực lượng bán quân
sự – chẳng hạn như Thanh niên Cộng hòa có vũ trang mà Nhu đứng đầu –
hơn là dựa vào quân đội-such as the armed Republican Youth which Nhu
heads-rather than on the army. [ bị xóa nhiều chữ] ông ta đang thúc đẩy
các chính sách được hoạch định để đảm bảo cho mình một vị trí ưu thế
cuối cùng.[bị xóa một số chữ] ” [2]
✱ CIA và giải pháp “Nhu – Hồ” 1963 –The
Possibility of a GVN Deal with North Vietnam, ( bản văn thiết lập ngày
26.09.1963 – chấp thuận cho công bố ngày 08.11.2004, phổ biến trên thư
viện online ngày 16.12.2016)
①. Chúng tôi đã nhận được một số báo cáo gần đây về khả năng có sự thương thảo giữa Chính phủ Việt Nam với miền Bắc Việt Nam:
Ủy viên ICC Ba Lan Manelli đã trình bày với Nhu về đề xuất do Hồ
Chí Minh đưa ra rằng Việt Cộng sẽ ngừng chiến- Polish ICC Commissioner
Manelli has reportedly presented a Ho Chi Minh proposal to Nhu for a de
facto cease-fire by the Viet Cong: Nhu được cho là đang nghiên cứu đề
xuất này, tin rằng sự việc này có thể sẽ tiến hành trong vòng ba đến
bốn tháng-Nhu is allegedly studying this proposal, believing that it
might become relevant in three to four months..
b- [ 1-1/2 dòng bị xóa -chưa giải
mật] đã nói với Đại sứ Lodge rằng Nhu luôn nghĩ đến việc đàm phán với
miền Bắc và tự tin rằng bản thân ông ta đủ khéo léo để đem lại thành
công–has told Ambassador Lodge that NHU has always thought of
negotiating with the North and believes himself clever enough to bring
it off..
c- [ 1-1/2 dòng bị xóa ] đã cảnh báo các quan chức Mỹ tại Sài Gòn về
các cuộc trò chuyện giữa Manelli và Nhu về giải pháp hòa giải với miền
Bắc Việt Nam.
Nhu đã thừa nhận với Trạm trưởng của chúng tôi ở Sài Gòn, rằng ông
ta đã nói chuyện với Manelli, và ông ta (Nhu) đã từng tiếp xúc với
các cán bộ Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam-and that he (Nhu) has been in
contact for some time with Viet Cong agents in South Vietnam, và rằng
mục đích của ông ta không phải để thăm dò về một thỏa hiệp với Miền Bắc
nhưng để thuyết phục những cán bộ cao cấp của Việt Cộng ở Miền Nam xa
rời chủ nghĩa Cộng sản.
[bị xóa một số chữ ] Ông ta vẫn chưa sẵn sàng làm như vậy – về kênh
đối thoại giữa Nhu-Hồ -He is not already doing so-as
a Nhu-Ho communication link..
Tổng thống de Gaulle đưa ra sáng kiến liên quan đến Việt Nam nơi có
quan hệ lịch sử lâu dài. Phía Pháp quan tâm đến khả năng về giải pháp
“trung lập ” tại đây-French interest in a possible “neutralized”
solution there.
②. Mặc dù chúng tôi
không cảm thấy có nguy cơ lớn về một giải pháp nào đó của Chính phủ
Việt Nam sắp xảy ra dưới một hình thức nào ðó với miền Bắc, nhýng chúng
tôi tin có khả năng sẽ xảy ra một giải pháp như vậy, vào một thời
điểm nào đó trong tương lai gần, vì vậy Hoa Kỳ cần cảnh giác và quan
tâm đặc biệt – to warrant special US watchfulness and concern. Theo quan điểm của chúng tôi, vấn đề không phải là việc
Diệm hay Nhu “đầu quân ” cho Hồ, hoặc đầu hàng nhằm đưa miền Nam
dưới sự thống trị của cộng sản-or wittingly surrendering their country
to communist domination.. Thay vào đó, mối nguy hiểm nằm ở chỗ Diệm và
Nhu coi lợi ích riêng của họ là lợi ích của đất nước họ-Instead, the
dangers lie in the fact that Diem and Nhu consider their own interests
to be those of their country, và nghĩ rằng họ có thể vận dụng thành
công về một giải pháp chính trị với Hà Nội. Vì vậy, vào một thời điểm
nào đó, họ sẽ tìm cách thỏa hiệp với miền Bắc, vì họ tin rằng giải
pháp hòa giải với những người cùng một dân tộc vẫn tốt hơn là cúi đầu
trước áp lực của ngoại bang (Mỹ)-they might at some juncture seek to
work out a modus vivendi with the North, out of belief that a deal with
kindred peoples was better than submitting to foreign (US) pressures.
③. Cơ hội mà Diệm và
Nhu thực sự đi tìm kiếm một giải pháp hòa giải nào đó với miền Bắc có
thể sẽ tăng lên nếu họ cảm thấy rằng các áp lực của Hoa Kỳ đã trở nên
quyết liệt đến mức đẩy họ vào góc tường-if they felt that US pressures
had become so intense that they were backed into a corner. Một khi họ
cảm thấy những lựa chọn thay thế duy nhất là dấu chấm hết cho vị thế
của họ, hoặc phải chấp nhận một cách nhục nhã dưới sự lấn át của Hoa
Kỳ trong đường hướng chính trị ở miền Nam Việt Nam, thời họ có thể sẽ
chọn “mở đường ra phía Bắc.”- or humiliating acceptance of a much
greater US voice in the political direction of South Vietnam, they might
opt for an “opening to the North.” Thành công của họ trong việc thực
hiện một thỏa hiệp như vậy phần lớn sẽ phụ thuộc vào phương pháp và thời
gian của họ. Nếu biết rằng Diệm và Nhu thực sự có ý định tìm kiếm một
giải pháp nào đó với miền Bắc-If it became known that Diem and Nhu
seriously intended to seek an accommodation with the North. điều này có
thể dẫn đến cuộc đảo chính của một số nhà lãnh đạo quân sự Nam Việt
Nam-this might well precipitate a coup attempt by certain South
Vietnamese military leaders. Tuy nhiên, nếu Diệm và Nhu có thể chứng tỏ
rằng các thỏa hiệp của họ với miền Bắc là nhằm phục vụ lợi ích của Nam
Việt Nam, và không gây nguy hiểm cho các lợi ích của Nam Việt Nam, thì
họ có thể thành công-However, if Diem and Nhu were able to make it
appear that their dealings with the North were intended to serve, and
not endanger, South Vietnamese interests, they might then succeed. Trong
bất kỳ trường hợp nào, có thể có sự hưởng ứng đáng kể từ phía quần
chúng đối với “giải pháp” Bắc-Nam, một khi tình hình quân sự và chính
trị giảm sút mạnh mẽ so với mức hiện tại. there might be considerable
public acquiescence in a North-South “solution” in the event that the
military and political situations had declined sharply from present
levels.” [3]
✱ CIA : Về khả năng hai miền Nam-Bắc hòa giải ( bản văn thiết lập ngày 26.09.1963 – chấp thuận cho công bố ngày 08.11.2004, phổ biến trên thư viện online ngày 16.12.2016)
➊.Tóm tắt. Thông tin, tin đồn và cuộc phỏng vấn của
Joseph Alsop trên tờ Washington Post ngày 18 tháng 9, cho thấy có dấu
hiệu Chính phủ Việt Nam, VNDCCH và Pháp có thể đã tham gia vào khả
năng tìm kiếm sự hợp tác giữa hai miền Bắc-Nam. Nhiều cuộc thăm dò
cho thấyrất khó có khả năng về sự thống nhất (hai
miền) sắp xảy ra, nhưng các điều kiện thống nhất giữa hai miền, phía Hà
Nội luôn đòi hỏi sự qui thuận từ phía Chính phủ Việt Nam và giao
miền Nam Việt Nam cho miền Bắc Cộng sản. Nên việc thống nhất khó có khả
năng thực hiện, chúng tôi cho rằng phía Chính phủ Việt Nam hiện đang
thực sự quan tâm đến một số phương án kém quan trọng hơn-the GVN is now
seriously interested in some form of rapprochement of lesser dimensions
than reunification , như là việc ngừng bắn tạm thời, ngừng bắn chính
thức, hoặc một số biến thể của việc trung lập hóa-de facto ceasefire,
formal ceasefire, or some variant of neutralization. Tuy nhiên, hiện có
dấu hiệu gia đình họ Ngô quan tâm đến mối quan hệ hợp tác nên sự
việc vẫn cần được tiếp tục theo dõi chặt chẽ. “…”
➋. Bài báo của Alsop. Dựa
trên cơ sở thông tin có sẵn về sự kiện do Alsop nêu trên, về cơ bản
có vẻ như đúng, nhưng kết luận của anh ta nên được xem xét về những
điều mà anh ta không đề cập đến. Một chuỗi sự kiện có phần giống với
một số sự kiện mà Alsop kể lại xảy ra vào năm ngoái: Vào tháng 3 năm
1962, Hồ Chí Minh cho biết trong một cuộc phỏng vấn với Wilfred Burchett
rằng ông ta quan tâm đến một nền hòa bình, một giải pháp cho vấn đề
Việt Nam. (Cần lưu ý rằng chuyến thăm cuối cùng được xác nhận của
Burchett tới miền Bắc Việt Nam xảy ra vào tháng 3 năm 1962. Do đó, có
thể Alsop đề cập đến chuyến thăm năm 1962. Không phải chuyến viếng thăm
gần đây.) Vào tháng 9 năm 1962 [ bị xóa một số chữ], Hồ đã nói rằng ông
ta đã chuẩn bị để mở rộng vòng tay hữu nghị với Diệm (“một người yêu
nước”)-Ho had said he was prepared to extend the hand of friendship to
Diem(“a patriot”) và rằng miền Bắc và miền Nam có thể
bắt đầu một số bước hướng tới một thỏa thuận giao thương giữa hai
bên, bao gồm cả việc trao đổi các thành viên của gia đình bị ly
tán- including an exchange of members of divided Families. Tuy nhiên, có
một sự khác biệt đáng kể trong phản ứng của Chính phủ Việt Nam đối với
tình hình năm 1962 và diễn biến hiện tại. Mặc dù tin đồn về một số hình
thức liên lạc giữa Nhu và Việt Cộng đã tồn tại trong nhiều năm, nhưng
tin tức về sự liên hệ như vậy đã bị phủ nhận. Tuy nhiên,bây
giờ Nhu thừa nhận việc liên hệ với miền Bắc và đã đưa ra những gợi ý
công khai rằng Chính phủ Việt Nam sẽ không nhất thiết từ chối xem xét
các đề xuất từ phía Hà Nội-Nhu acknowledges contacts with the North and
has dropped transparent hints that the GVN would not necessarily refuse
to consider overtures from Hanoi.
➌. Mặc dù không có tin
đồn và sự suy đoán nào gần đây liên quan đến sự thương lượng giữa
VNDCCH và Chính phủ Việt Nam được nêu ra một cách chi tiết, chúng tôi
tin rằng các yếu tố chính liên quan đến bất kỳ sự hòa giải nào sẽ bao
gồm các điểm sau:
Ngô Đình Nhu. Nhu là một người đàn ông tài giỏi,
sắc sảo và nhiều tham vọng, với sự quan tâm tuyệt đối trong việc duy trì
quyền lực chính trị của mình và tất cả những gì cần thiết để thực hiện
điều này. Ông ta có ác cảm sâu sắc với chế độ Hà Nội, được củng cố bởi
thực tế là Việt Minh có thể đã tra tấn và giết chết người anh cả của ông
ta. Tuy nhiên, sẽ hoàn toàn phù hợp với tính cách của Nhu và Diệm –
để tìm kiếm một số phương án hầu dễ bề xoay sở khi phải đối mặt với Hoa
Kỳ để tránh khỏi bị bó buộc giữa hai sự lựa chọn không thể chấp
nhận: hoặc là không đầu hàng trước các đòi hỏi của Hoa Kỳ -abject
surrender to US demands hoặc mất tất cả quyền lực chính trị-or a loss of
all political power. Chính trong bối cảnh này, có khả năng họ Ngô sẽ
thương thảo với miền Bắc -It is within this context that the likelihood
of Ngo family dealings with North Vietnam should be assessed.
Chúng tôi tin rằng nếu Nhu và Diệm cảm
thấy họ sớm phải đối mặt với những lựa chọn mang tính cực đoan như
vậy, hoặc họ có thể sẽ lựa chọn thực hiện một giải pháp nào đó với Hà
Nội.Diệm sẽ ít có khả năng chấp nhận thỏa hiệp với Hà
Nội hơn so với em trai của mình, nhưng hoàn cảnh bây giờ đã thuận lợi
hơn trước để Nhu theo đuổi về đường lối này. “…” Nhu không có khả năng
coi việc thống nhất là giải pháp thay thế có thể chấp nhận được-Nhu
would not be likely to consider unification an acceptable
alternative. Tuy nhiên, nếu Nhà Ngô tiến hành tìm kiếm sự đồng thuận
với VNDCCH qua các điều kiện ít quan trọng hơn là điều kiện thống
nhất (hai miền)- ví dụ như về một lệnh ngừng bắn – họ có thể thực hiện
nghiêm túc hơn là đòi hỏi của VNDCCH phải loại bỏ các lực lượng Hoa
Kỳ.
VNDCCH.Mặc dù những tiến bộ gần đây của miền Nam
Việt Nam trong việc tiến hành cuộc chiến chống Việt Cộng đã khiến Hà Nội
phải mở rộng thời gian biểu của mình, nhưng không có bằng chứng nào cho
thấy những người Cộng sản tự tin vào chiến thắng cuối cùng.Vì
vậy, Hà Nội vẫn chưa cảm thấy có bất kỳ áp lực nào trong việc t́m kiếm
một thỏa hiệp với Chính phủ Việt Nam về bất kỳ điều khoản nào ngoại
trừ các điều kiện của chính họ-Thus, Hanoi is not yet in a position
where it feels any pressure to seek a rapprochement with the GVN on any
but its own terms. Cho đến nay liên quan đến vấn đề thống nhất, các điều
kiện tối thiểu của VNDCCH mà Hồ thường xuyên nêu ra – bao gồm việc chấm
dứt và rút mọi hỗ trợ quân sự của Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam Việt Nam,
và thành lập một chính phủ liên hiệp quốc gia ở miền Nam Việt Nam gồm
tất cả các thành phần chính trị, bao gồm cả Việt Cộng. Những điều kiện
này sẽ không thể chấp nhận được đối với Diệm và Nhu-These conditions
would be patently unacceptable to Diem and Nhu.
Người Pháp. Bất chấp những căng thẳng hiện nay
trong quan hệ Pháp-Mỹ, khó có khả năng Pháp sẽ thay thế Hoa Kỳ để hỗ trợ
cho Chính phủ Việt Nam (ngay cả khi người Pháp cảm thấy có thể đưa ra
một đề nghị như vậy, nhưng họ có thể là không). Trên thực tế, Pháp không
có khả năng đưa ra bất kỳ đề nghị viện trợ nào đủ cơ bản và cụ thể để
Nhu cảm thấy lạc quan về việc gạt Mỹ sang một bên-In fact, France is not
likely to make any aid offer sufficiently substantial and concrete for
Nhu to feel sanguine about casting the US aside và quay sang đàm phán
với VNDCCH dưới sự hỗ trợ của Pháp-and turning toward negotiations with
the DRV under an umbrella of French support. On the other”. “…”
“Một dấu hiệu cho thấy sự ủng hộ của
Pháp đối với Trần Văn Hữu – một cựu thủ tướng bù nhìn của Pháp dưới thời
Bảo Đại, hiện đang cư ngụ tại Paris, đang tích cực vận động một giải
pháp trung lập cho miền Nam Việt Nam. Thái độ của Pháp đối với Việt Nam
được tô điểm bởi sự mong muốn giành lại càng nhiều ảnh hưởng càng tốt ở
Đông Dương, và bởi sự không hài lòng khi thấy Mỹ chiếm ưu thế ở Nam
Việt Nam và Lào.”…”
Phản ứng tại miền Nam Việt Nam. Ngay cả khi bản
thân ông Nhu dù có đi theo chiều hướng này, ông ta sẽ thấy việc “rao
bán” một thỏa hiệp với Hà Nội cho các thành phần lãnh đạo của dân
chúng Việt Nam là một vấn đề tế nhị và khó khăn. Trên thực tế, những khó
khăn này dường như không thể vượt qua vào thời điểm hiện tại. Nhu
không thể mong đợi một cách hợp lý để thực hiện bất kỳ mối quan hệ hợp
tác thực sự nào với miền Bắc mà không thông báo ý định của mình cho các
tướng lĩnh QLVNCH – và cộng đồng tình báo Hoa Kỳ.[ Bị xóa 3 dòng chưa
giải mật] Tuy nhiên, không nên coi thường sự khôn ngoan và kỹ năng thao
túng chính trị của Nhu, và nếu theo đuổi một chiến thuật như vậy, dù
đúng hay sai, ông ta có thể tin rằng ông ta có thể qua mặt ngay cả các
đối thủ quân sự của mình, đặc biệt nếu ông ta có sự cam kết hỗ trợ từ
phía người Pháp-particularly if he had some commitment of French
assistance..
➍. Cảnh báo trước. Lập
luận trên dựa vào sự giả định rằng Diệm và Nhu, mặc dù hoạt động dưới
nhiều áp lực, về cơ bản vẫn hợp lý-The preceding argument is based on
the assumption that Diem and Nhu, although operating under tremendous
pressures, remain essentially rational.. Một số nhà quan sát, bao gồm cả
Alsop, cảm thấy rằng cả hai anh em Nhà Ngô có thể không còn hợp
lý. Nếu trường hợp này xảy ra, khả năng Nhu nỗ lực tìm kiếm một thỏa
hiệp với Hà Nội phải được đánh giá cao hơn đáng kể so với các điều viết
tại phần trên, vì những nhận định của Nhu về lợi ích của đất nước ông
ta, và mức độ về mối đe dọa của Cộng sản sẽ không còn phải cân nhắc,
rằng có thực tế hay không nữa. Ở một mức độ nào đó, điều tương tự cũng
phải nói về ông Diệm – mặc dù ông ta có nhiều khả năng sẽ rút lui hoàn
toàn khỏi chính trường (ví dụ, vào một tu viện) và để lại mọi quyết định
chính trị cho em trai mình-and leave all political decisions to his
brother.” [4]
Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại Giao đặc trách vùng Đông Á đề xuất các biện pháp
đối phó, và sau là phản ứng của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ về
giải pháp hòa giải “Bắc-Nam” 1963.