Tuesday, August 27, 2024

NHỮNG ÂM MƯU CHO NGÀY 02 THÁNG 09 NĂM 1945

Sau Hội Nghị Potsdam (Germany, July 17-August 2, 1945, Liên Sô, Hoa Kỳ, Anh) Hồ Chí Minh (HCM) đã biết ý định của đồng minh là bằng lòng cho Pháp tái chiếm Đông Dương để dẹp làn sóng đỏ. Pháp theo chân Anh về miền Nam Việt Nam để cùng quân đội Anh giải tàn quân Nhật (Nhật-Đức-Ý thất trận khi đối đầu với quân đội đồng minh), nhưng thật ra tướng Douglas của Anh đã giúp Pháp mở cửa nhà tù cho quân Pháp ra để đương đầu với quân Việt cộng tại Saigon. Những chuẩn bị của HCM trong giai đoạn này thế nào? Phần trình bày sau đây dựa vào cuốn “Why Vietnam? Prelude to America’s Albatross,” 1980, tác giả Archimedes Patti, Điều Hành Trưởng cơ quan tình báo OSS của Hoa Kỳ.

Vài ngày trước khi Nhật bị 2 trái bom nguyên tử và đầu hàng đồng minh, HCM đã có buổi nói chuyện với ông Archimedes Patti.

He would assure them “and the world” that Vietnam from north of south would be reduced to ashes, even if it meant the life of every man, woman, and child, and that his government’s policy would be one of “scorched earth to the end.” This statement from a man who was a master of understated diplomacy was, I knew, not an idle threat and I still remember it vividly. (page 4)

Ông ta quả quyết với họ (Pháp) và cả thế giới rằng nước Việt Nam từ nam tới bắc sẽ trở thành tro bụi, ngay cả nó có nghĩa lấy cả sự sống của mỗi người đàn ông, đàn bà, và trẻ con, và chính sách của chính phủ của ông ta là “tiêu thổ tới cùng.” Câu nói này từ một người đàn ông mà ông ta là tổ sư của lối ngoại giao lưu manh gian hùng. Tôi biết, đó không phải là một sự đe doạ vu vơ và tôi còn nhớ nó một cách linh động.

Lúc này là mới vào trung tuần tháng 8. Ý đồ cướp chính quyền đã thúc đẩy HCM vận động Hoa Kỳ ủng hộ, cũng như đánh tiếng cho thế giới biết rằng ông ta sẽ chiến tranh với nước Pháp cho dù chết hết cả người Việt Nam. Nên nhớ ngay lúc này là phe Pháp Charles de Gaulle. De Gaulle đã nhiều lần đánh cáp cho Tổng Thống Truman là Hoa Kỳ phải nên giúp nước Pháp tái chiếm dẹp làn sóng đỏ, nếu không tại nước Pháp sẽ bị phe Đảng Cộng Sản Pháp lãnh đạo. Thế nên kết quả của Hội Nghị Potsdam là có sự sắp xếp cho quân Pháp theo chân quân đội Anh vào Saigon vào tháng 9/1945.

Phe Việt Minh của Hồ đã cướp chính quyền ngày 17/8/1945, và sau đó chính thức tuyên bố ngày 19/8/1945. HCM tổ chức 2 buổi xuống đường. Thứ nhất vào ngày 26/8/1945, với ý đồ mời gọi phái đoàn tình báo OSS, đại diện bởi thiếu tá Patti, nhưng Patti đã không đến dự. Đây phải là lệnh từ Washington. Trước đó một ngày, đài phát thanh đã kêu gọi dân ra đường dự buổi meeting đón “phái bộ đồng minh”, nhưng chờ khá lâu không thấy bóng dáng một người OSS nên HCM mới ra lệnh cho đoàn đại biểu kéo cờ và giàn nhạc đến ngay trước văn phòng OSS tại Hà Nội. Hình ảnh dẫn chứng sau đây.

26 tháng 8, 1945, Hà Nội. Hồ Chi Minh gửi một đoàn đại biểu chính thức dẫn đầu là Võ Nguyên Giáp đến hoan nghênh phái đoàn OSS Hoa Kỳ tại Hà Nội. Khi ban nhạc đánh bản Quốc Ca Hoa Kỳ, Giáp và đoàn đại biểu cùng với tác giả (Patti) và đội OSS chào cờ Hoa Kỳ


30 tháng 8, 1945, Hà Nội. Buổi xuống đường chống Pháp

Trong lúc quân đội Anh và Pháp đến Nam Việt Nam dẹp tàn quân Nhật chiếu theo Hội Nghị Potsdam, HCM cho làm buổi xuống đường chống Pháp tại Hà Nội, vào ngày 30/8/1945. Hồ đã thấy ra ý định Pháp tái chiếm Đông Dương mà phải có sự hỗ trợ của Mỹ. Sự sắp đặt không cho Thủ Tuớng Chính Phủ Lâm Thời Charles de Gaulle tham dự Potsdam và Yalta có lẽ, một cách không ồn ào, để làm nhẹ làn sóng quân đội Pháp tái chiếm dẹp làn sóng đỏ, mà trước đó thế cai trị thực dân của Pháp còn ám ảnh cho một số người trên thế giới.

Perhaps Ho, a master of conspiratorial maneuvers, was thinking in terms of what we Americans called “If you can’t beat them, join them” a tactic he had been known to use with some success.(page 235)

Có thể Hồ, một tổ sư của những tên thủ đoạn, đã nghĩ như cách nói của người Mỹ là “Nếu anh không thể thắng họ, hãy cộng tác với họ” một sách lược mà Hồ đã dùng được người ta biết có một vài kết quả.

Đúng như ông thiếu tá tình báo Patti ghi nhận về bản chất của HCM, ông ta thừa biết Mỹ và Anh đứng sau lưng quân đội Pháp để đánh Việt cộng tại Saigon, nhưng vẫn làm ra mặt thân thiện với người Mỹ để mong được Hoa Kỳ công nhận.

Trước 2/9 vài ngày, HCM đã mời ông Patti giúp ý kiến về bài phát biểu. Patti ngạc nhiên khi nghe người thông dịch đọc những câu vô đầu của bài văn ấy. Không biết phải giải quyết như thế nào, vì không có luật pháp nào cấm một người dùng một câu nguyên văn trong Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ. Lòng tự ái dân tộc nổi lên lại vừa thầm nghĩ tên lãnh tụ cộng sản này sao mà ngu ngơ đến thế…Patti hỏi vặn lại HCM là ông có thực sự muốn đọc những lời tuyên bố bất hữu ấy của nước Mỹ (immortal statement)? Hồ trả lời tại sao lại không! I don’t know why it nettled me – perhaps a feeling of proprietary right, or something equally inane. (page 223) –Tôi không hiểu tại sao nó làm tôi khó chiụ – có thể là một cảm giác của quyền sở hữu riêng, hay là một điều gì đó đồng nghĩa với sự ngu ngốc.

HCM chuẩn bị ra mắt tại Ba Đình Hà Nội ngày 2/9/1945, với hình thức tổ chức và nội dung chính trị mà ông Patti gọi là ” một chi nhánh đặc biệt của chủ nghĩa cộng sản” (A special brand of communism). Ngày 1/9, đại úy Grelecki và thiếu tá tình báo Patti đã quan sát khu vực tổ chức. Có nhiều biểu ngữ, trong đó có ” Chào mừng đồng minh Mỹ – Welcome the Allies, particularly the Americans…”

Patti có hỏi một nhân viên an ninh tại đó về ngày hôm sau, ngày 2/9. Ông ta trả lời: ngày mai, người dân sẽ tiếp nhận một chính phủ mới, lãnh đạo là HCM. Patti ghi là ông này cũng chưa hề gặp HCM, không thấy hình ảnh, ngay cả cũng không biết ông Hồ từ đâu tới chỉ biết HCM ở nước ngoài nhiều năm. Hỏi ông ta có biết HCM liên kết với nhóm chính trị nào không, ông ta trả lời nhóm đó là Việt Minh.

Did he know that Viet Minh was communist? He seemed confused and embarrassed, then confessed he did not really know what I meant by communist…I was to experience this phenomenon many times in the weeks I spent in Hanoi. (page 240)

Ông ta có biết Việt Minh là cộng sản? Ông ta có vẻ như bối rối và ngượng, rồi thú nhận là ông ta không biết ý tôi muốn nói khi đề cập tới cộng sản. Tôi đã kinh nghiệm hiện tượng này nhiều lần trong những tuần lễ tôi tốn thời gian tại Hà Nội.

Ông Patti đã đi lòng vòng hỏi rất nhiều người về HCM và chính phủ đang thành lập, nhưng không ai biết gì để trả lời chỉ tỏ vẻ chấp nhận, ngoại trừ khoảng 4 người nhập nhằng cho rằng cũng có thể không tốt và cũng có thể tốt.

Buổi chiều ngày 1/9/1945

HCM mời Grelecki và Patti dự cơm chiều tại dinh hang Bac Bo. Mục đích là muốn khai thác ông Patti để quan sát tìm hiểu sâu hơn về đường lối của Hoa Kỳ đối với Đông Dương, nhất là vai trò của Pháp.

Trong buổi chiều này có mặt Hoàng Minh Giám. Patti ghi nhận ông Giám có đề cập tới Hội Nghị Liên Hiệp Quốc tại San Francisco, 25/4/1945- 26/6/1945, bao gồm 50 quốc gia trên thế giới, liên quan tới những vấn đề cần thiết sau thế chiến thứ 2. Trụ cột là 5 cường quốc gồm Hoa Kỳ, Anh, Liên Sô, Trung Quốc, Pháp. Ông Giám cho rằng kết quả hội nghị đã không lưu ý tới chương trình của HCM, mà lại bằng lòng cho Pháp trở về Đông Dương.

Tài liệu: The Pentagon Papers (Boston: Beacon Press, 1971): Truman and The Occupation of Indochina, 1945

Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Stettinius đã tường trình về Washington sau Hội Nghị tại San Francisco, rằng Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp, ông Goerges Bidault, tỏ ra bằng lòng cách giải quyết của Hoa Kỳ về vai trò của Pháp tại Đông Dương

Bidault seemed relieved and has no doubt cabled Paris that he received renewed assurances of our recognition of French sovereignty over that area. Bidault tỏ ra an tâm và vững tin gửi giây cáp về Paris rằng ông đã nhận sự cam đoan mới của chúng ta là nhìn nhận chủ quyền của người Pháp tại vùng đó.

Đây là vào cuối 6/1945. Đến 17/7/1945 là bắt đầu Hội Nghị Potsdam. Phe Hồ đã nắm rõ đường lối của đồng minh đối với vấn đề Đông Dương, đó không gì hơn là cho Pháp theo Chân Anh về dẹp làn sóng đỏ do HCM, một quốc tế cộng sản, gây ra. Khi chia tay tại buổi cơm chiều này, Giáp còn nói câu chót với Patti rằng có nhiều người Pháp (high ranking French officials) đang nhảy nằm vùng để theo dõi, nhất là ngay hôm sau 2/9.

Ngày 2/9/1945

HCM đã chính thức mời phái đoàn của OSS đến dự ngày 2/9, nhưng Chỉ Huy Trưởng OSS đã từ chối:

I had decided not to accept Ho’s invitation to the official platform but to view the ceremonies only as an observer in the crowds. (page 249) – Tôi đã quyết định từ chối thư mời của Hồ đến dự tại mặt phẳng khán đài, nhưng nhìn buổi lễ, chỉ như là một người quan sát đứng trong đám đông.

Ông Patti còn ghi nhận ngay ngày này có những biểu tượng rùng rợn lên án chế độ thực dân, nhất là hình ảnh minh hoạ một người Việt Nam cúi đầu để lính Pháp chặt…

Ngay lúc này, 2020, chủ trương “sáng tạo” những câu chuyện ác độc để nói về đối thủ để che lấp cái ác của chế độ độc tài cộng sản vẫn còn nhan nhãn mọi miền. Tuổi trẻ sinh sau đẻ muộn bị nhồi nhét những điều không có thật. Một số thanh niên ngày nay làm Youtube, lãnh lương Mỹ trả đều đều hàng tháng, có người mua được nhà, xe hơi… Những con đường quanh co tuyệt đẹp trên vùng đồi núi hùng vĩ được Pháp tạo dựng trong những vùng dân tộc thiểu số miền Bắc, những buildings kiến trúc theo lối Tây Phương, những đường xe lửa, trường học, nhà thờ, v.v….Ngay cả những trí thức của cộng sản cũng được đào tạo từ trường lớp của Pháp như Võ Nguyên Giáp… Lòng đang nghĩ tới công lao người Pháp, ngưỡng mộ tinh thần khai phóng của họ, nhưng không tránh khỏi cái tuyên truyền của búa liềm đè nặng. Một nơi tại Lào Cai có trưng bày gọi là “di tích” người Pháp mổ bụng Việt Minh…

Sau lời tuyên bố của HCM là đến Võ Nguyên Giáp. Trong phạm vi ngoại giao với các nước, Giáp đã cố tình cho mọi người chú ý tới Hoa Kỳ và Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch). Giáp nói họ là hai quốc gia đồng minh đã ủng hộ Việt Minh. Lạ lùng là Giáp không đá động gì tới Liên Sô, một đàn anh cộng sản quốc tế của Hồ. Ông Patti cũng không quan tâm gì tới lời phát biểu của Giáp. Sáng hôm sau, báo Đảng và điạ phương đăng tin Giáp ca ngợi Hoa Kỳ là đồng minh hỗ trợ tích cực cho tập đoàn HCM chống Pháp giành độc lập. Họ không hề đăng tin ông Patti đã chính thức từ chối đứng trên khán đài, mà chỉ đứng tại đám đông để quan sát. Đã có lần Patti yêu cầu phe Hồ nên gỡ biễu ngữ “đồng minh.” Vấn đề là phe Hồ bất chấp Hoa Kỳ và Pháp nghĩ họ thế nào, miễn sao lường gạt được dân chúng mà HCM cho là 95% mù chữ.

Sau khi đọc hết nguyên văn (transcript) của HCM được dịch ra tiếng Anh (translated and transmitted by radio to Kunning) tại buổi ra mắt, Patti liền viết tường trình về Washington DC. Patti ghi lại chi tiết HCM kể rất nhiều về tội của Pháp đối với người Việt Nam mà Patti cho là Hồ đã dựng chuyện quá mức tưởng tượng.

Ho was relentless in his accusations (page 251) – Hồ đã rất tàn nhẫn trong việc kết tội người khác.

(Lên án Pháp nặng nề như vậy, rồi 6 tháng sau HCM đội Pháp lên đầu ca ngợi, rước Pháp về cai trị, cho 15 ngàn quân đội Pháp về miền Bắc, ký Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946. Tại sao? Bởi vì phe cánh Pháp này là cộng sản đang nắm quyền trong chính phủ lâm thời)

Đến ngày nay khi đọc lại những giòng chữ này của tác giả Archimedes Patti khi viết về HCM, chúng tôi mới nhận ra những sự thật chắc hơn về giai đoạn lịch sử vô cùng phức tạp, mà những ứng xử của người lãnh đạo cơ quan tình báo OSS không thể cho là hời hợt. Có những tin cho rằng Patti đã thân thiện với phe Hồ và làm lợi cho họ. Người Pháp cũng đã nghĩ như vậy. Có lần ông Patti đã bị triệu hồi về Washington là vậy. Bộ máy tuyên truyền của nhà nước độc tài Hà Nội thì khó mà lường. Họ tuyên truyền, đăng tin tạo dựng, thủ đoạn, xanh vỏ đỏ lòng…

Vũ lực và dối trá. Lên án và trình bày tội ác của Đảng Cộng Sản Việt Nam không phải vì lòng thù hận riêng tư, mà phải là bổn phận của những ai còn quan tâm tới tiền đồ của dân tộc, quan tâm tới những thế hệ bị nhồi nhét những sai lầm vô bổ.

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện với 27 năm tù cộng sản:

Ôi thằng Tây mà trước kia người dân không tiếc máu xương đánh đuổi
Nay họ xót xa luyến tiếc vô chừng
Nhờ vuốt nanh của lũ thú rừng
Mà bàn tay tên cai trị thực dân hoá ra êm ả!..
.

Là quỷ, là ma, là thú dữ?
Gian manh, tàn ác, đê hèn
Lũ cưỡi đầu, bóp cổ dân đen
Để gọi chúng, tiếng người không đủ chữ!

Bút Sử

Sources: Why Vietnam?, Archimedes L.A. Patti, 1980

Wednesday, July 24, 2024

70 NĂM CUỘC DI CƯ 1954


70 năm cuộc di cư 1954: hành trang mang theo đến vùng đất mới Người Bắc di cư từ Hải Phòng năm 1954
Courtesy by Naval History and Heritage Command

Làn sóng di cư năm 1954 của người từ miền Bắc vào Nam đến nay đã tròn 70 năm. Cuộc di cư có tên tiếng anh là Operation Passage to Freedom hay Chiến dch Con đường đến Tự do. 

Triệu người di cư vào Nam

Sau chiến dch Điện Biên Phủ kết thúc vào tháng 5/1954, Hiđịnh Geneve được ký kết vào ngày 21/7/1954. Hiệđịnh tạm thời chia Việt Nam thành hai khu vực, lấy sông Bến Hải, vĩ tuyến 17 Bắc làm giới tuyến quân sự tạm thời. Một khu phi quân sự rộng 4,8 km ở mỗi bên của đường phân giới chia Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự: Việt Minh tập trung tại miền Bắc, còn quân đội khối Liên hiệp Pháp tập trung tại miền Nam.

Hiệđịnh cho phép dân cư giữa hai vùng di chuyển tự do qua lại trong vòng 300 ngày, từ ngày 15/8/1954 cho tới ngày 15/5/1955, ngày chiếc tàu chở dân di cư cui cùng rời khỏi Đồ Sơn trước khi biên giới hai miền đóng cửa.

Nhà văn Nguyễn Viện, quê gốc ở tỉnh Hải Dương, kể với RFA rằng khi gia đình ông ra đi vào cuối năm 1954 ông mới được năm tuổi:

“Tôi rất nhớ là gia đình chúng tôi phải trốn đi trong đêm. Tôi lúc đó năm tuổi, để trong một cái thúng gánh đi từ quê lên Hải Phòng. Từ chỗ quê nhà tôi là cái làng Đồng Xá thuộc tỉnh Hải Dương bây giờ, mà lên Hải Phòng nó khoảng chừng 20km.

Chúng tôi ở Hải Phòng một tuần lễ thì bắt đầu xuống tàu há mồm. Cái ký ức mà tôi nhớ không bao giờ tôi quên được là trên con đường bước xuống tàu thì chúng tôi xếp hàng một đi và cái cơ quan tổ chức di cư đó họ xịt thuốc sát trùng lên người giống như là thuốc xịt muỗi bây giờ. Mình giống như một loại thú vật được sát trùng trước cho khi lên tàu.

Dĩ nhiên là mặc dù chúng tôi tình nguyện đi nhưng mà cái cảm giác mà mình bị xịt thuốc như vậy đó phải nói là nó là một cái điều gì nó xúc phạm con người, dân tộc con người ghê gớm.”

Sau gần một tuần lênh đênh trên biển, gia đình ông Nguyễn Viện được đưa về một khu tạm cư ở Bến Cát, Bình Dương rồi cùng với những người di cư từ miền Bắc khác lập thành làng xóm, bắt đầu cuộc sống mới ở đất Bình Dương:

“Chúng tôi được đổ xuống giữa một cái rừng cao su bạt ngàn và dưới những gốc cây cao su. Những cái lều bạt tạm được dựng lên để mà tiếđón những người di cư như chúng tôi, thì chúng gia đình chúng tôi cũng có một lều bạt trong một đêm mưa tầm tã.”

Cho tới khoảng năm 60, sau khi Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam được thành lập, khu vực sinh sống của gia đình ông Viện trở thành khu vực oanh kích tự do. Bởi thế, gia đình ông cũng như tất cả những người trong làng buộc phải rời bỏ làng ra đi. Riêng ông dời đến Sài Gòn từ đó cho đến nay.

Trong ký ức của nhà văn Nguyễn Viện, ông và gia đình không gặp trở ngại gì khi bắt đầu cuộc sống mới trong xã hội miền Nam lúc bấy giờ. Bởi, theo ông:

“Nóchung là cái tình người Nam hay người Bắc nó hoàn toàn 

không phải là vấn đề. Nó chỉ là vấn đề khi nó trở thành vấn đề chính trị thôi chứ còn giữa con người với nhau thì nó hoàn toàn không vấn đề gì hết.”

Thống kê cho thấy tổng cộng có gần một  triệu người di cư từ Bắc vào Nam.

Trong số khoảng một triệu người di cư, có rất nhiều nhân vật nổi tiếng thuộc đủ các thành phần như chính trị gia, giới trí thức, văn nghệ sỹ… Họ mang theo các giá trị tinh hoa của miền Bắc trong lĩnh vực của mình, đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội miền Nam.

Những đóng góp

National Archives 2.jpg
Người di cư đến Sài Gòn sau khi rời khỏi miền Bắc năm 1954. Ảnh: National Archives

Giáo sư, tiến sỹ giáo dục Đào Thị Hợi, là một trong hai người phụ nữ Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp tiến sỹ ngành giáo dục của Đại học Columbia, vào năm 1965. Bà kể với Đài Á châu Tự do rằng bà và gia đình rời Hưng Yên đến Sài Gòn vào tháng 8/1954. Thời điểm đó, cũng có nhiều trí thức rời miền Bắc, mang theo tất cả sách quý hiếm ở Thư viện quốc gia vào Nam:

Những tên tuổi lớn như là bác Trần Thanh Hiệp, Doãn Quốc Sỹ... Các ông đó lúc bấy giờ là sinh viên của trường Văn Khoa, hay là Luật Khoa ở ngoài Bắc đấy. Họ giỏi lắm, họ mang được cái Thư viện quốc gia ở đường Tràng Thi.

Các anh các chị đó khi đi vào Nam mang được bao nhiêu là sách vở từ cái thư viện đó vào Nam, chứ không để. Mình biết là cái lỗi ca Cộng sản là nó đốt phá hết, như là Thời năm 75 đó!

Ngoài ra, theo giáo sư Đào Thị Hợi, một loạt các giáo sư là người gốc Bắc đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực giáo dục, góp phần đưa Việt Nam trở thành cái tên danh giá trong lĩnh vực giáo dục trong khu vực:

“Cũng nhờ ngày xưa mình đã học với Tây cho nên mình tiếp xúc với Âu châu được nhanh nhẹn hơn các nước khác.

i có một số người bạn Nam Hàn họ nói rằng người Việt Nam đi vào nền văn học của các nước khác dễ dàng hơn là bởi vì mình đã học với Pháp rồi, đã mở cửa ra nhận tất cả nền giáo dục, văn hóa ca các nước khác.”

Giáo sư Đào Thị Hợi chính là một thành viên sáng lậTổ chức Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á. Đây là một tổ chức liên chính phủ của 11 quốc gia Đông Nam Á, được thành lập vào ngày 30/11/1965 bởi Vương quốc Lào, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam Cộng hòa. Tổ chức này hiện vẫn còn hoạt động với mục tiêu thúc đẩy hợp tác khu vực về giáo dục, khoa học và văn hóa trong khu vực. Từ năm 1969 cho đến 1971, giáo sư Hợi làm Giám đốc học vụ tại Học viện Sinh ngữ Quân đội ở tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.

Theo nhà văn Nguyễn Viện, về khía cạnh văn học, nghệ thuật thì những nghệ sĩ từ miền Bắc vào Nam là những người đi tìm tự do và sáng tác của họ đa phần mang khuynh hướng chính trị, tức là cổ vũ cho sự tự do và đề cao sự tự do:

“Người ra đi từ miền Bắc mang theo một ý thức chính trị rõ rệt và sang miền Nam với một ý thức xây dựng một cái xã hội tự do. Bởi thế văn chương của họ là hướng tới cái sự tự do.”

Theo nhà văn Đỗ Trường, người chuyên nghiên cứu văn hoá miền Nam, cuc di cư của các văn nghệ sĩ từ Bắc vào Nam năm 1954 đưa đến sự giao thoa, bổ sung cho nhau của đặc trưng văn học hai miền, làm cho Văn học miền Nam mới mẻ, phong phú hơn.

Thời kỳ 1954, theo nhà văn Đỗ Trường, hầu hết các tinh hoa văn học Việt Nam thời kỳ đó đều tập trung ở đất Bắc. Đặc biệt sự ra đời của Tự lực văn đoàn do anh em nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam sáng lập. Dường như đây là nhóm văn học đầu tiên tại Việt Nam (Hà Nội). Vì vậy, giai đoạn này Văn học miền Bắc có khác so với Văn học miền Nam (Nam Bộ). Bởi, ngoài tài năng quần tụ, thì tính đặc trưng văn học vùng, miền này hiện lên khá rõ nét trong các tác phẩm của nhà văn, nhà thơ.  Nếu Văn học phương Nam giản dị, thì Văn học đất Bắc trau chuốt lt léo, n dụ, đa tầng ngữ nghĩa, với nhiều hình tượng trong sự liên tưởng.

Nhà văn Đỗ Trường nhận xét văn hóa, ngôn ngữ vùng miền đã đem sự sinh động cho Văn học, cũng như các bộ môn nghệ thuật khác của miền Nam.

Nhạc sỹ Tuấn Khanh, người đã có nhiều năm nghiên cứu âm nhạc Việt Nam trước 1975, cho biết miền Bắc có cơ hội tiếp nhận văn hóa âm nhạc phương Tây, tác động đến việc phát triển tân nhạc từ cuối những năm 1930.

Ca từ khởi đầu trước khi tách riêng và trở thành nội dung chuyển tải tâm tình đa dạng và gần gũi, khởi đầu là phần nhiều đi với cách mô tả thiên nhiên tựa như thơ Đường Luật. Những bài hát đầu tiên của Đặng Thế Phong, Đoàn Chuẩn – Từ Linh… là một trong những ví dụ.

Nhưng từ 1954, các nhà sáng tác như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Anh Bằng… bắt đầu chuẩn hóa nhạc mới theo nhiều phong cách khác nhau. Cùng với sự tham gia của các văn nghệ sĩ miền Nam, đến cuối thập niên 1960, những lối sáng tác đơn âm (monodic), tựa như ca ngâm giai điệu, đã chuyển qua bước sáng tác đa âm (polyphonic), nhập cuộc với trào lưu phát triển âm nhạc Anh – Mỹ.

Việc sáng tác và biểu diễn liên tục, kể cả nắm giữ công nghệ ghi âm ban đầu đã giúp cho cách hát phát âm giọng Bắc trở thành khuynh hướng chính trong việc trình bày ca nhạc mới của Việt Nam, có giá trị truyền thống đến hôm nay.

Cũng như văn chương, sự có mặt của văn nghệ sĩ miền Bắc vào năm từ 1954 trong âm nhạc là cả một pho sử thi. Chỉ duy nhất ở miền Nam, và có lẽ mãi về sau, âm nhạc có nhiều nhánh diễn đạt, không chỉ là yêu đương, mà là những câu chuyện kể của đời sống, giai cấp, ca ngợi tôn giáo, hay lồng ghép các giá trị vị nhân sinh (Du ca), vị tha và yêu thương (Phượng Hoàng), hiện sinh (Lê Uyên Phương), thân phận và lẽ sống (Trịnh Công Sơn)…

Theo ông Đỗ Trường, những người di cư đã đem cái trang nhã, cầu kỳ phương Bắc trộn vào cái bình dị, ấm áp của phương Nam, tạo ra hồn vía mới cho âm nhạc miền Nam.  Những ca khúc trữ tình ấy, tuy nhẹ nhàng, gần gũi mang tính tự sự cá nhân, song rất sang trọng, đi sâu vào mọi giới thưởng ngoạn. Nó làm cho người nghe, tưởng như Tân nhạc miền Nam đã được thay da đổi thịt vậy. Việc đưa dân ca vào Tân nhạc, mà điển hình là nhạc sĩ Phạm Duy không chỉ đưa người nghe trở về với hồn vía dân ca truyền thống, mà còn làm phong phú nền Tân nhạc Việt.  

Thành tựu to lớn đó không chỉ đào tạo sản sinh ra các thế hệ ca, nhạc sĩ tài năng, đa dạng với phong cách, nghệ thuật riêng biệt, độc đáo, mà còn cho hướng người nghe, nhất là giới trẻ đến với âm nhạc chân thực cùng giá trị thẩm mỹ.

Vẫn tồn tại dù có bị khai tử

Sau 1975, ông Đỗ Trường cho biết, không chỉ tác phẩm ca các nhà văn, và các nhà xuất bản gốc Bắc, mà toàn bộ nền văn học, âm nhạc miền Nam bị khai tử. Toàn bộ sách, báo… nghĩa là tất cả những gì dính dáng đến chế độ cũ in ấn xuất bản, kể cả tình yêu, hay những sách vô thưởng vô phạt đều tịch thu, và hóa vàng…

Cũng như nhưng tác phẩm của mình, các nhà văn di cư này đều vào rọ” cả. Có những bác bị cải tạo tù đày đến trên dưới chục năm như: Nguyên Vũ, hay Thảo Trường… Đặc biệt Doãn Quốc Sỹ bị bắt thả, bắt thả nhiều lần tổng cộng đến 14 năm tù đày.

“Tôi nghĩ, dường như có sự trả thù, hay gì đó, như nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Một cụ già chuyên thi ca thơ phú tình yêu trong cái lạc loài của kiếp người, vậy cũng bị tù đày cho đến chết. Hay những tác phẩm của ông thơ tình Đinh Hùng cũng đốt bằng sạch cho tuyệt nọc.”

Tuy nhiên, vẫn có một số sách báo được cất giấu, do chính những người buộc phải thi hành mang ra Bắc, như truyện của Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long hay Dương Nghiễm Mậu.

Nhà văn Đỗ Trường cho rằng giá trị, di sản mà các văn nghệ sĩ thuộc các thế hệ di cư để lại cho miền Nam nói riêng và Việt Nam có thể nói là vô giá và nó vẫn tồn tại dù có bị cố tình chôn lấp:

Những tác phẩm văn học hội tụ cả hai giá trị nhân đạo, và giá trị hiện thực như vậy, dù sau 1975 người ta có cố tình hủy diệt, thì nó vẫn sống và còn sinh sôi nảy nở, không chỉ ở nơi đã sinh ra.” 

Với nhạc sỹ Tuấn Khanh, vào lúc mà tất cả những cuốn sách cũ với những chủ đề nhạy cảm nhất, vẫn xuất hiện ở trên những hiệu sách đường phố; cũng như những bài hát của văn hóa miền Nam VNCH vẫn vang lên khắp nơi như là một phần hiển nhiên không thể chối cãi trong đời sống Việt nói chung.

“Vì có lẽ dựa trên nền tảng giáo dục khai phóng và nhân bản, nên mọi sáng tạo đóng góp cho văn hóa người Việt trong xã hội miền Nam Việt Nam lúc đó, nói chung đều được trân trọng và được giữ gìn.

Câu chuyện đó bất cứ lúc nào nhìn lại cũng sẽ thấy rằng, may mà chúng ta đã có được một giai đoạn - dù không là hoàn hảo - nhưng đối chiếu đến hiện tại vẫn là một điều vô cùng tuyệt vời.

 

 Nguồn:https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/70-years-geneve-operation-passage-to-freedom-07162024105238.html

Tuesday, July 16, 2024

THÔNG BÁO : GỞI BÀI VIẾT ĐẶC SAN TRÁCH NHIỆM XUÂN ẤT MÃO 2025

      Inline image

   
                                          THÔNG BÁO

Kính gởi : - Quý Niên Trưởng
                  - Quý Huynh Trưởng
                  - Quý Cựu TNCT/VNCH
- Khu Hi Cựu TNCT Nam California sẽ thực hiện Đặc San TRÁCH NHIỆM XUÂN T TỴ 2025, 
chúng tôi rất mong đón nhn tất cả bài vđóng góp cho Đặc San thêm phần phong phú từ các N.T, H.T, 
& Chiến Hu CỰU TNCT/VNCH

Bài vở xin gởi về các Email dưới đây:

- Nguyễn Hữu Thắng <khuhoitnctnamcali@gmail.com>
- Nguyễn Thời Tín <khuhoictnct@gmail.com>
- Lê Văn Thành <tl88vk@gmail.com>

Nhận bài vở cho ĐS bắt đu từ ngày ra thông báo cho đến 30/9/2024

                         Little Saigon ngày 15 tháng 7 năm 2024
                                 T.M Ban Chấp Hành Khu Hội
                                        Hội Trưởng Khu Hội
                                         Nguyễn Hữu Thắng

                       Inline image

19 THÁNG 8 NĂM 1945: CÁCH MẠNG HAY VIỆT MINH CƯỚP CHÍNH QUYỀN?

  Giáo Sư Phạm Cao Dương   19 tháng 8, 1945, Việt Minh Cướp Chính Quyền. Nguồn internet. Dù trong nước mườ...