Vũ Thư Hiên
Người Tù Già nằm bất động. Lão nằm và nhìn lên bầu trời xám xịt qua song cửa. Nhìn đăm đăm và nghĩ miên man.
Những
ý nghĩ đứt quãng, trôi nổi, bồng bềnh, lẫn lộn. Trùm lên những ý nghĩ
vẩn vơ ấy là một màu buồn u tối. Đầu đông
ở thung lũng là thế. Thời tiết thay đổi từng giờ. Mặt trời không cất
mình lên nổi nơi sương mù giăng mắc giữa ban ngày. Những vạt rừng ngàn
năm nhấp nhô đậm nhạt trong thứ nửa mù nửa mưa bao quanh trại tù như một
vành khăn xô rách rưới. Không phải vô lý mà
người ta thích đặt trại tù trong những thung lũng, lão nghĩ. Họ khôn
lắm. Không phải chỉ để ngăn tù trốn đâu. Mà để ngăn cả ý nghĩ vượt ngục
của tù nữa, nếu như nó dám nảy ra.
Người Tù Già buồn.
Lão biết lão chẳng còn sống bao lâu. Dấu hiệu đầu tiên của cái chết mà
lão biết được là đôi chân không còn nghe theo lão. Lão mất hết cảm giác
về chúng. Chúng rời bỏ lão một cách chậm chạp, không sao ngăn nổi. Bắt
đầu là hai bàn chân, hôm qua, rồi tới đầu gối,
sáng nay, và bây giờ – tới hông. Cả cái mùi khăn khẳn dính chặt vào
khứu giác, không biết nó xuất phát từ đâu, có phải đấy là mùi của chính
lão?
Lão biết lần ngã bệnh này của lão không như những lần trước, trong suốt
đời tù đằng đẵng. Mười một năm rồi chứ ít à? Trong mười một năm ấy lão
đã vượt qua cái chết không phải một lần. Nhưng lần này thì không, lão
biết. Không qua được. Không ăn thua. Thân thể
lão đã cạn khả năng sống sót để chờ thêm một năm, hoặc hai năm, như lão
từng chờ nhiều lần, để được xét tha sau một lệnh. Lệnh, là gọi tắt một
kỳ hạn của cái gọi là “tập trung cải tạo”. Một lệnh là ba năm. Hết ba
năm này là ba năm khác. Cứ thế mà diễn.
Mà chắc gì lão được tha cơ chứ?
Cái chết toàn năng, cái khốn nạn bất khả kháng, như hốc miệng đen ngòm
của một con trăn khổng lồ đang nuốt dần cơ thể lão, từng phút một. Rất
chậm, nhưng không dừng một giây.
Lão sợ. Lão không muốn chết một tí nào. Lão muốn sống. Chao ôi, lão muốn sống lắm lắm. Chưa khi nào lão muốn sống bằng lúc này.
Đấy, ngay bây giờ đây này, lão đang muốn kêu, muốn gào lên, muốn thét
lên, bằng hết giọng, để thiên hạ nghe thấy mà chạy đến, để thiên hạ xúm
lại kéo lão ra khỏi cái hốc khủng khiếp đen ngòm kia. Nhưng lão không
kêu được. Từ cuống họng lão chỉ phát ra những
tiếng ú ớ mà, lạ thay, lão lại nghe rất rõ. Đôi tai nghễnh ngãng nhiều
năm bỗng trở lên thính lạ thường. Tưởng chừng cái sống còn lại trong
người lão chỉ tập trung nơi thính giác. Nó, và chỉ có nó, nối liền lão
với thế giới bên ngoài.
Nói lão muốn gọi thiên hạ là nói thế thôi, chứ lão biết cả cái thế giới bên ngoài kia chẳng thèm nhòm nhõ gì đến lão.
Đối với cái thiên hạ ấy, lão chẳng là cái gì. Bạn tù không đến thăm lão.
Họ mệt lử sau một ngày lao động, lết được về tới phòng là nằm vật ra,
còn sức nào để nghĩ tới lão. Trừ Cựu Tỉnh Trưởng, một người tù già, còn
già hơn lão nữa, ở ngay đây, trong trạm xá,
thỉnh thoảng mới lệt xệt từng bước đến bên giường ngó lão một cái. Lũ
bệnh nhân cùng trạm xá với lão kia, ở ngay bên lão, thì chẳng nói làm gì
– còn khuya cái lũ ấy mới nói với lão một lời. Chúng chẳng bệnh tật gì,
chúng được nằm trạm xá vì chúng có tiền cống
cho thằng Y Tá, cho ông Y Sĩ . Giờ đây chúng túm tụm trên cái giường
gần giường lão, đang sát phạt nhau trong canh bạc mới mở. Lão nghe rõ
mồn một thằng nào cười hô hố, thằng nào đang ngửa cổ reo tướng lên,
thằng nào vừa vỗ đùi trong khoái trá, thằng nào vừa
văng một câu chửi đổng trong cơn bực bội.
Y Tá cũng ngồi trong đám bạc. Mặt bì bì, mắt trắng dã, môi mỏng mím
chặt, hắn vật quân bài xuống chiếu cái đét và ngửa cổ lên văng một tràng
chửi tục. Không cần nhìn, lão cũng biết nước bọt hắn văng tung toé. Hắn
không thể nói mà không văng nước bọt.
Y Tá vốn là một bác sĩ khoa phụ sản bệnh viện tỉnh, trước nữa là Y Tá
huyện, được trên cho bổ túc lên y sĩ, rồi bổ túc lên bác sĩ. Hắn là tù
có án – năm năm vì tội cưỡng dâm bệnh nhân.
Người Tù Già đón hắn từ lúc hắn vừa bước xuống ô tô ca của trại tỉnh chở
tù lên trại trung ương. Người cùng một tỉnh, gặp nhau ở trong tù thì
mừng, là lẽ thường. Chẳng gì cũng đồng hương đồng khói với nhau, chứ
trước kia lão đâu có quen hắn.
Như mọi nông dân, có bao giờ lão đi bệnh viện. Người nông dân nghe đến
bệnh viện là hãi rồi, như chết đến nơi rồi, không chết đến nơi thì chẳng
ai tới bệnh viện làm gì. Nhưng cái chính là lão sợ tốn. Ốm đau đã có lá
lẩu trong vườn, nặng hơn thì tìm đến ông
lang ngoài chợ, ra khỏi nhà một bước là một bước tiền.
Hắn được phân vào toán đan lát của lão. Lão mừng húm. Lão rủ hắn ăn
chung. Chia sẻ với hắn từng viên thuốc lào. Ở ngoài, nghe nói hắn béo
lắm. Lên trại, hắn xuống cân vù vù. Gày tong teo. Đi xiêu vẹo. Hắn quên
sạch mọi thứ trên đời, trừ những cái có thể bỏ
vào mồm. Đi làm ngoài trại mắt hắn láo liên lục bới từng khóm cây bụi
cỏ kiếm con cào cào, con châu chấu. Hôm nào vớ được con thằn lằn, hôm đó
hắn như sống lại. Người ta quen thấy hắn vật vờ ngoài sân, hết rẽ vào
nhà này lại nhà kia để kiếm miếng ăn. Một trong
những cách kiếm ăn lương thiện nhất, ít bị khinh bỉ nhất, là tẩm quất
thuê cho lũ “đầu gấu”, lũ “sĩ quan”.
Cuộc đời đầy những bất ngờ. Tay “y tá trại”, trước kia là bác sĩ một
bệnh viện trung ương bị kết án chung thân vì tội dùng thạch tín đầu độc
vợ giữ chức y tá đã nhiều năm, nhờ có nhiều quan hệ với các quan chức
lớn nên luôn được giảm án, đùng một cái được tha
trước hạn. Cái chân y tá trại béo bở có một số ứng viên sáng giá – đó
là mấy tù nhân bác sĩ, người đi tù vì tham ô, kẻ vì buôn lậu. Trời xui
đất khiến thế nào, hắn được Ban giám thị chọn. Tính về thành phần xuất
thân hắn ăn đứt bọn kia, hắn không phải chỉ
là nông dân nói chung, hắn là cố nông tính về thành phần, quân chủ lực
của cách mạng. Một bước, hắn lên quan, dù là quan trong trại tù.
Làm y tá trong tù bảnh lắm. Muốn nghỉ lao động một ngày, hoặc vài ngày,
trong đời tù triền miên lao động và lao động, những người tù khốn khổ,
không trừ một ai, đều phải cầu cạnh y tá. Tuỳ theo cống vật họ dâng mà y
tá gia ân cho họ nhiều hay ít – từ một hai
ngày nghỉ lao động cho đến nằm trạm xá để theo dõi và điều trị.
Nhà bếp, liên minh thần thánh của trạm xá, bao giờ cũng dành cho Y Tá
phần béo bở, ngày thường cũng như ngày ăn “tươi”, trong mốì quan hệ hai
bên cùng có lợi. Hắn mau chóng lên cân trở lại. Trơn lông đỏ da. Rồi béo
hú. Hắn thích kể chuyện những người đàn bà
đã qua tay hắn, như những chiến công, và thề sẽ trả thù con mụ bệnh
nhân bị cưỡng hiếp đã làm đơn tố cáo hắn.
Người Tù Già không trông cậy ở Y Tá một sự chiếu cố nào. Lão biết có
trông cậy cũng vô ích. Ở trong tù mà nói chuyện ân tình là lạc điệu, là
ngu. Lão chỉ ân hận một chút – ấy là lão đã không đủ khôn ngoan để nghĩ
tới chuyện đút lót Y tá ngay từ hôm đầu nằm
trạm xá, như những người tù khác.
– Ở đời chẳng có gì tự nhiên có, chẳng có gì tự nhiên mất – Y Tá triết lý – Không hiểu điều sơ đẳng ấy thì ô hô, có mà ăn cám.
Người Tù Già không nghĩ tới đút lót là có cái lý của lão. Lão có cái gì
để mà đút cơ chứ? Trên răng dưới cát-tút, lão là thế. Lão không thuộc
loại người giận đời hoặc đám kẻ sĩ dở hơi đã vào tù rồi vẫn còn cương,
không chịu cúi đầu trước bọn cán bộ, đừng nói
gì tới Y Tá hay trật tự. Nếu có cái để đút thì lão cũng đút rồi. Nhưng Y
Tá lại nghĩ khác – ừ thì lão không có tiền thật, lão nghèo rớt mồng
tơi, đúng, nhưng lão có thể xin, có thể vay chứ. Vẫn còn những bạn tù
tốt sẵn lòng giúp lão lúc hiểm nghèo cơ mà. Vay
trước trả sau là chuyện thường tình. Cho nên Y Tá mới giận. Lão già cứ ì
thần cụ ra, cứ như thể Y Tá là đồng hương của lão thì hắn phải có trách
nhiệm săn sóc lão. Đừng hòng. Còn khuya nhé!
Y Tá đoán sai – lão hành xử như thế, không kể chuyện lão không có tiền,
cái chính là vì lão coi thường bệnh. Lão xem trận ốm bất ngờ như một sự
bất tiện hơn là một bệnh. Lão tin ở đặc tính sống dai của người tù. Đó
là một sinh vật kỳ lạ – sống không mảy may
tiện nghi, thiếu thốn đủ đường, mắc đủ mọi bệnh, thế mà vẫn sống nhăn,
như để phô bày một hiện tượng kỳ lạ của nhân loại. Lão không hề nghĩ đến
cái chết khi lão khai ốm. Thậm chí lão còn cho là Y Tá nhầm khi cho lão
đi nằm trạm xá. Kiết lỵ là cái quái gì cơ
chứ? Lão đã chứng kiến một lần tù chết hàng loạt trong một trận dịch
kiết lỵ. Kinh lắm. Chôn không kịp. Nhưng dịch là dịch, chứ cái kiết lị
bình thường, kiết lỵ hàng ngày, có làm thằng chó nào chết đâu? Lần này
lão có đau bụng thật, đau quặn, khó chịu lắm,
nhưng cũng chỉ như những lần khác, không hơn. Đến bữa lão vẫn “bụp” đến
nơi đến chốn, ngoài suất cơm trại còn ngốn cả mấy chét to rau má mới
thấy lưng lửng dạ.
Lão chỉ bắt đầu lo, bắt đầu ân hận đã không đút lót Y Tá khi thấy cái
bệnh tưởng chừng vớ vẩn ấy ngày một nặng. Lão thấy những cơn đau quặn dữ
dội đến lạ lùng ở bụng dưới. Mót liên tục. Không nhịn được. Mỗi lần đi
cầu sức lực của lão như trôi ra theo đám phân
lầy nhầy máu.
Y Tá cũng coi thường bệnh của lão. Khi thấy bệnh nặng thêm thì hắn cho
lão ăn cháo với muối. Muối là lành nhất, không gì lành bằng. Với phương
pháp điều trị này, bệnh nhân nào rồi cũng khỏi. Trừ những bệnh nhân đã
đến cõi. Khi thấy lão đi nhiều quá, mệt quá,
thì y cho thêm mấy viên Berberin. Trong nhà tù Berberin là thần dược
cho các bệnh đường tiêu hoá.
Nhưng Berberin không ăn thua. Uống vào như không uống.
Người Tù Già thầm trách Y Tá trại nhẫn tâm. Hắn cho lão nằm trạm xá để làm gì, nếu như hắn không muốn chữa cho lão khỏi?
Lão không biết rằng Y Tá chẳng tốt mà cũng chẳng xấu với lão. Y Tá chỉ
làm việc phải làm mà thôi. Đó là lệnh của Ban Giám thị: “Phải giảm tỷ lệ
tử vong xuống!”
Số là từ đầu năm tù ở mấy trại trung ương bỗng lăn ra chết như ruồi
trong một trận dịch kiết lỵ. Đến nỗi ông Bộ trưởng phải ra một chỉ thị
đặc biệt để chặn đứng tai hoạ. Không phải bỗng nhiên ông quan tâm tới số
phận tù. Sự quan tâm bắt đầu từ việc đứa cháu
họ mẹ vợ ông Tổng bí thư đảng, làm công an một trại, đến thăm kể cho bà
nghe chuyện cảnh tù chết la liệt như thế nào. Anh ta muốn bà nói giúp
một tiếng để anh ta được chuyển ngành. Là Phật tử thuần thành, bà lựa
lời khuyên ông con rể chớ để sự thể như thế
mà luỵ đến đời con cháu.
Ông Tổng bí thư, tác giả nhiều cuốn sách về chủ nghĩa duy vật, về tính
nhân văn xã hội chủ nghĩa, cười giễu cái sự tin nhảm của bà lão. Ông
không tin Trời, không tin Chúa, không tin Phật. Ông chỉ tin ở sức mạnh
của cái Đảng dưới quyền ông. Có nó, ông muốn làm
gì cũng được. Nó bách chiến bách thắng.
Ông Bộ trưởng Công an và ông Cục trưởng Cục quản lý trại giam được ông Tổng bí thư triệu lên.
– Đường lối của Đảng ta là trị bệnh cứu người – Tổng bí thư căn dặn –
Trấn áp bọn phản cách mạng thì không thể nương nhẹ. Đó là chuyên chính.
Nhưng khi chúng nó đã là người tù thì phải coi chúng nó như người bệnh,
phải chăm nom cho chúng nó khỏi bệnh, để chúng
nó còn sống mà trở thành công dân lương thiện. Các đồng chí làm ăn thế
nào để đến nỗi tù chết nhiều đến thế? Tôi chỉ thị các đồng chí phát động
ngay một đợt thi đua trong các trại giam để giảm lập tức tỷ lệ tử vong
xuống. Tôi nhắc lại, ta phải nhân đạo, ngay
cả với kẻ thù … Các đồng chí phải quán triệt đường lối ấy.
Hai ông cấp dưới trở về, nói với cấp dưới nữa, rồi cấp dưới nữa lại nói
với cấp dưới nữa. Khi nhắc lại lời ông, họ ngước mắt lên trời:
– Thánh thật! Ngồi một chỗ mà cái gì Cụ cũng biết, biết hết. Vớ vẩn với Cụ, toi có ngày!
2
Người Tù Già lắng nghe. Từ xa vẳng lại tiếng gõ chí chạt, đều đều. Cái
gì thế nhỉ? A, đúng rồi – đó tiếng dao thớt. Hớn hở và hối hả. Rộn rã.
Tưng bừng. Tiếng dao thớt này nghe vui lắm, phấn khởi lắm. Chắc chắn
phải là tiếng băm thịt, chặt xương. Không phải
tiếng băm rau, không phải. Nhà bếp cái gì cũng băm, cho nó nhanh. Có
lần lão đã lầm – hôm đó nhà bếp băm bí đỏ. Nhưng tiếng băm bí đỏ có khác
với băm thịt. Để ý thì thấy. Nó cũng phầm phập, nhưng không khô, không
gọn. Và uể oải. Chậm chạp.
Chao ôi! Lão muốn vỗ trán mà reo lên vì phát hiện, nhưng tay lão yếu
quá, nó chỉ còn có thể vỗ được trong ý nghĩ. Có vậy mà lão không nghĩ
ra, có khốn nạn không kia chứ. Cái đầu chết tiệt. Hôm nay Mồng Hai Tháng
Chín mà! Là ngày Quốc khánh mà! Phải có “tươi”
lớn chứ.
Lão buồn xỉu. Lão hiểu rằng lão đã mất hết ý thức về thời gian. Lão
không còn phân biệt được hôm qua với hôm kia. Lão chỉ còn biết được hôm
nay. Lão chỉ còn biết cái hiện tại, cái bây giờ.
Ngày lại ngày trong đời tù giống hệt nhau. Thế là lẫn. Lão nhớ ra ngày
Quốc khánh nhờ nhớ được cái lần trại “ăn tươi” trước đó – ngày Quốc tế
Lao động Mồng Một Tháng Năm. Giữa hai ngày lễ đó chẳng có lễ nào khác.
Lão mơ màng hình dung ra những miếng thịt kho tàu màu cánh gián đẹp như
được đánh véc ni, nồi hầm xương bò nhuếnh nhoáng hằng hà sa số những sao
nhỏ sao to trên mặt nước béo ngậy.
Thảo nào, từ buổi sáng lão đã mơ màng nghe tiếng quạ kêu. Cái giống đến
là tài, chúng ngửi được mùi xác chết cách xa cả chục cây số. Thế mà lúc
ấy lão đã nghĩ dại – lão nghĩ lũ quạ đánh hơi thấy mùi lão. Lão loáng
thoáng nghe có người bảo giống quạ biết ở đâu
đó có súc vật chết, hoặc người chết. Chim lợn còn thính hơn. Nó còn
đánh hơi được cả người sắp chết. Là bởi người sắp chết cũng bốc mùi. Cái
mùi ấy mũi người không thấy được.
Lão nhếch mép. Không ai có thể bảo đó là lão cười, bởi cái nhếch mép của
lão không thành. Lão đang sung sướng trong lòng. Không phải lũ quạ đánh
hơi thấy mùi lão. Chúng nó đánh hơi thấy con lợn hay con bò bị làm thịt
dưới kia, chỗ nhà bếp.
Lão hình dung bữa tươi sắp được hưởng. Miếng mỡ căng phồng khi cắn vào
mới ngon làm sao! Là lão nhớ đến miếng mỡ ở ngoài kia kia, ở cái cuộc
sống bên kia bốn bức tường nhà tù kia, chứ ở đây có bao giờ được một
miếng như thế. Nhưng mỡ thì ở đâu cũng vẫn là mỡ.
Nước mỡ ứa ra sẽ làm cho miệng lão hết khô, lưỡi lão hết sưng tấy. Nó
giống như nước mưa nhỏ xuống đất cằn.
Thịt cũng thế. Nó làm cho người ốm khỏe ra, làm cho người già trẻ lại.
Chỉ mới nghĩ tới nó lão đã tỉnh hẳn, đã quên bẵng nhưng ý nghĩ đen tối
về cái chết.
Lão nhớ bữa “ăn tươi” cuối cùng xảy ra hôm nào. Thông thường một tháng
tù được “ăn tươi” một lần. Nhưng đã ba tháng rồi chẳng được một bữa tươi
nào sất. Ban giám thị cắt ăn tươi toàn trại vì một vụ trốn tù táo bạo –
năm tên tù xổng cùng một lúc vào ban đêm.
Ban giám thị cho rằng nhiều người biết sự chuẩn bị của vụ trốn, nhưng
không chịu tố cáo.
Lão gượng quay đầu nhìn sang giường bên, nơi những con bạc đang mải mê
sát phạt. Lão đã thấy chúng mà cả với nhau về giá cả bữa tươi lớn, đặc
biệt, sắp tới.
– Thịt!
Đôi mắt mờ đục của lão sáng lên. Chúng thậm chí còn động đậy trong hai hốc sâu của cái sau này gọi là đầu lâu.
Cái chết giật mình. Nó đang say sưa nuốt dần con mồi, nó đã nuốt tới đầu
gối, tới hông. Con mồi đã chịu tho, ngoan ngoãn và yên phận. Vậy mà
đùng một cái, cái con mồi mềm oặt, đã hết sức sống, bỗng giãy giụa, đẩy
nó ra bằng sức mạnh không ngờ.
Cái chết ngừng nuốt, nhẹ nhàng tạm nhả miếng mồi.
Y Tá vừa trang bài vừa bực bội vừa nhìn sang giường Người Tù Già.
– Mẹ kiếp, chưa chết hử? – hắn hấm hứ – Đã bảo, đừng có rên! Sốt cả ruột!
Cái đầu của Người Tù Già lắc lư khe khẽ. A, lão còn lắc đầu được kìa, Y
Tá nghĩ. Lão cãi đấy. Rằng lão vẫn còn sống, lão chưa chết. Chao ôi, cái
giống tù sống dai khiếp! Một bệnh nhân như thế ở ngoài đời thì đã xong
từ lâu. Từ hôm kia. Hoặc kéo được tới hôm
qua là cùng. Mạch gần như không còn, hơi thở mong manh. Từ giường bệnh
của lão bốc lên mùi tanh tưởi. Hồi còn ở bệnh viện – hắn lúc đó là bác
sĩ chứ không phải là Y Tá như trong cái trại khốn kiếp này – hắn không
bao giờ đứng lâu trong phòng bệnh nhân. Hắn
lướt qua các giường bệnh một lượt, hỏi han qua loa, rồi đi thẳng. Cuộc
chạy việt dã qua các giường bệnh kết thúc bằng việc rửa ráy không với
mục đích sát trùng mà chỉ cốt xua tan uế khí của phòng bệnh dính vào da
thịt. Thế mà ở đây, hắn phải chịu đựng cái
cực hình đó. Phòng dành cho Y Tá và phòng bệnh nhân thông với nhau, mùi
hôi thối và tanh tưởi của phòng bệnh nhân nồng nặc. Tối đến, người ta
khóa tuốt tuột cả hắn lẫn con bệnh của hắn trong trạm xá. Ít nhất thì
cánh cửa liếp cũng ngăn được một phần cái mùi
kinh tởm ấy.
Hắn từng biết ơn Người Tù Già đã giúp hắn khi hắn mới tới trại. Lúc đó
hắn khốn khổ lắm. Lúc đó hắn nghĩ rồi đây hắn sẽ phải trả ơn lão. Thế
rồi hắn quên bẵng. Trí nhớ của hắn không giữ lại ý nghĩ xa xỉ đó. Hắn đã
học được cách sống theo luật rừng, không phải
ở đây, mà từ ngoài kia. Rừng thuộc về kẻ mạnh. Kẻ nào không học được
cách sống ấy, kẻ đó tiêu. Hắn cho Người Tù Già được nằm trạm xá không
phải như một cử chỉ trả ơn. Hắn thấy mặt lão đã bạc ra vì bệnh. Theo lệ
thường người sắp chết phải được đi qua trạm xá
để đến nhà xác.
Người Tù Già lại rên rỉ. Y Tá rời mắt khỏi mấy quân bài, nguýt lão:
– Gì?
– N..ư..ơ..ớ..c! – Người Tù Già cố gắng mấp máy cặp môi nứt nẻ.
– Để người ta xong ván bài đã nào. Đang đen bỏ mẹ đây này – Y Tá quát – Đừng có ám quẻ!
– N..ư..ơ..ớ..c!
– Mẹ kiếp! Uống đéo gì mà uống lắm thế? Này, “anh giề”, đây bảo cho mà biết: phàm càng uống nhiều thì càng chóng chết đấy!
Nghe đến tiếng “chết” Người Tù Già co rúm lại. Đó là nói phóng đại lên,
chứ lão không còn có thể co rúm thêm được. Bộ mặt lão méo xệch, đôi mắt
láo liên, thất thần. Cái tiếng “chết” thốt ra từ miệng bác sĩ là bản án
tử hình đọc cho bệnh nhân.
– Sợ hử? – Y Tá liếc xéo gương mặt méo xệch của lão, vừa lắc lư toàn
thân vừa xoi bài – Đừng có sợ. Thằng đéo nào rồi chẳng chết. “Anh giề”
chết, tôi chết, nó chết, các ông chết, chúng nó cũng chết. Chết sạch. Kẻ
trước người sau, vậy thôi. Đéo có đứa nào thoát.
Y Tá ngửa mặt lên cái trần nhà xạm đen, dấu vết của những bữa sột sệt, cười hô hố.
3
Khi nhà bếp gánh cơm đến trạm xá, thì đám bài lá giải tán.
Sĩ Quan nhún chân nhảy xuống đất, khệnh khạng bước ra khoảng trống trong
phòng khám. Hắn chống nạnh nhìn quanh, hai cánh mũi phập phồng, ngực áo
phanh ra phô hình con rắn quấn người đàn bà cởi truồng, và ở bên trên
là một trái tim bị tên xuyên thủng. Người
đàn bà giãy giụa trong vòng xiết của con rắn khi hắn cử động. .
Khẩu phần ăn của Y tá ở nhà bếp, quân số của hắn ở đó. Hắn bưng bát được
lĩnh riêng từ nhà bếp lên, lướt qua đám bệnh nhân đang đứng vòng trong
vòng ngoài quanh mấy xoong thức ăn sắp được chia, khẽ dặn Sĩ Quan:
– Chia xong, vào ăn với tao!
– Có cay chứ?
– Nhoè!
Đấy là hai đứa nói về rượu. Y Tá đã loay hoay pha chế chất cay, vừa pha
vừa huýt sáo. Đó là một hỗn hợp gồm cồn éthylène, mật mía, những viên
polyvitamine màu vàng. Từ lâu, Y Tá sát trùng ngoài da cho bệnh nhân
bằng nước sôi để nguội, để dành cồn cho những
cuộc nhậu nhẹt. Hội của hắn gồm vài Sĩ Quan cổ cánh, Trật tự và Thông
tin.
Từ giường của Người Tù Già phát ra một tiếng rên to. Sĩ Quan quay lại,
bắt gặp cái nhìn lạnh lẽo của Người Tù Già. Ấy là hắn có cảm giác như
vậy chứ chưa chắc đã là sự thật. Hắn thấy đôi mắt kẻ hấp hối đang hướng
về phía đám đông ồn ào chia thịt bỗng quay về
phía hắn.
Sĩ Quan giật mình trước cái nhìn ấy. Chuyện hắn bao giờ cũng chiếm phần
hơn trong những bữa tươi là chuyện đương nhiên. Những người tù buộc phải
chia cho hắn phần hơn – nhiều hơn, ngon hơn. Hắn đã gặp những cái nhìn
không thiện cảm, nhưng chưa bao giờ hắn gặp
một cái nhìn gườm gườm lạnh lẽo như thế.
Hắn tiến về phía Người Tù Già.
– “Anh giề” không bằng lòng hử? – hắn hất hàm hỏi, nhưng không sẵng.
Người Tù Già không trả lời. Từ đôi môi xám xịt của lão phát ra một tiếng hừ, giống một tiếng rên. Lão không nói được nữa rồi.
Sĩ Quan nhẹ nhàng hỏi lại lần nữa, một thái độ không thường có ở hắn:
– Vậy “anh giề” muốn gì nào? Cân nhá? Hay quay mặt đặt tên?
Người Tù Già vẫn không nói, đôi mắt gắn chặt vào mặt Sĩ Quan. Cái nhìn
ấy làm hắn bối rối. Đó là điều chưa từng xảy ra với hắn. Vào tù, qua
nhiều trại, hắn không sợ một ai. Hắn tự tin vì hắn có những quả đấm
thành thục. Ngày trước, hắn là võ sĩ quyền Anh hạng
ruồi, từng lên vũ đài và giật giải vô địch đôi ba lần. Rơi xuống đáy
vực xã hội hắn học thêm võ giang hồ. Trong môn võ không môn phái ấy cái
đầu tiên cần có là máu liều. Máu ấy hắn không thiếu. Nhưng hôm nay hắn
cảm thấy một nỗi sợ hãi mơ hồ. Y Tá bảo lão
già chẳng còn mấy nả. Lão già kia, với cái nhìn lạnh lẽo ấy, dám trả
thù lắm, dám báo oán lắm, một khi lão thành ma. Đánh nhau với người thì
được, đánh nhau với ma làm sao?!
Sĩ Quan đã định bụng nhận phần thịt của mình xong sẽ vào phòng Y Tá với
các sĩ quan khác đang đợi hắn. Nhưng hắn thấy bữa tươi này cần được chia
công bằng. Nếu hắn có mặt, không đứa nào dám hó hé giở trò bịp bợm.
Người Tù Già sẽ được hưởng phần thịt xứng đáng.
– Quay mặt đặt tên nhá?
Hắn hỏi lại lần nữa, giọng hạ hẳn xuống, dịu dàng. Cái đầu lưa thưa tóc
của người hấp hối khẽ cử động. Hắn hiểu là Người Tù Già gật đầu.
Theo hiệu lệnh câm lặng của hắn, người tù gày như một bộ xương biết đi
liếm đầu bút chì rồi ngồi xổm xuống viết tên những người tù trong trạm
xá vào mặt sau vỏ bao thuốc lá đặt trên đầu gối. Người đó viết xong thì
một người tù khác cầm tờ giấy lên, quay mặt
đi xướng tên người được lĩnh phần, trong khi đích thân Sĩ Quan cầm một
cái thìa gõ không theo một thứ tự nào vào từng bát đã được chia. Tên ai
được xướng lên trúng vào bát nào thì người có tên nhận bát đó.
Sĩ Quan tự tay bưng bát thịt đến bên giường Người Tù Già, đặt xuống bên cạnh ông
– “Anh giề” ơi, phần của ông anh đây, – hắn nói bằng giọng ngọt ngào và
vụng về – tôi bỏ thêm vào cho ông một miếng phần của tôi nữa đấy, đấy
miếng này này. Thế nào, “anh giề” bằng lòng chứ? Phần của “anh giề”
không lẫn miếng sụn miếng xương nào đâu, “anh giề”
ăn cho khỏe!
Đầu của Người Tù Già đụng đậy, Sĩ Quan hiểu là lão gật, lão hài lòng.
Rồi hạ giọng, hắn ghé sát vào tai lão thì thầm:
– Nói dại, “anh giề” có chết đi thì chớ quên phù hộ thằng này nhé! Chớ quên rằng thằng này đã tử tế với ông anh.
Hắn bưng bát thịt của hắn quay vào phòng trong, ở đó Y Tá đang trịnh
trọng rót thứ nước thánh do hắn chế tạo vào mấy cái chén nhỏ trước những
cặp mắt hau háu của lũ bạn.
4
Mấy anh tù tự giác đi làm về rẽ qua trạm xá xin thuốc đỏ vừa hút thuốc
lá cuốn vừa lắng nghe Y Tá kể về những phút cuối cùng của ông lão:
– Cái bát để bên cạnh, ngay chỗ này này. “Anh giề” nhà mình thấy cái bát
là cố gượng quay đầu lại nhìn. Bữa tươi “dầm”, thịt rang mặn thơm đéo
chịu được. Nhưng đến lúc ấy thì “anh giề” hết ngồi lên được nữa rồi.
Chân lão liệt từ đêm. Chết ấy à, chúng mày phải
biết, bao giờ cũng phải từ chân lên đầu, ngược lại là không có. Tớ nghe
tiếng “anh giề” ú ớ mãi. Chắc lão muốn gọi đứa nào đỡ lão ngồi lên,
nhưng lưỡi lão cứng rồi…
Người Tù Già nằm trên giường, im lặng. Mặt lão xám lại trong vẻ bất cần,
trong một vẻ trịnh trọng không nguyên cớ. Trên người lão là tấm chăn
rách của trại, phủ ngay ngắn, tấm chăn sợi Nam Định không biết đã được
dùng cho bao nhiêu kiếp tù.
– Lão ú ớ một hồi, rồi im. Mẹ kiếp, tớ lại ngỡ “anh giề” rên. Mấy hôm
nay lão rên suốt ấy mà. Nhưng tớ mặc. Cứ thấy rên mà chạy lại, có mà
chạy cả đêm. Ấy vậy, tớ mặc cho lão rên, định bụng ăn xong sẽ cho lão
một ống dầu long não. Đã đến nước ấy trời cũng không
cứu nổi, dầu long não cứu thế đéo nào được. Nhưng lệ trong nghề tớ là
thế, chúng mày ạ – gì thì gì cũng phải cho người hấp hối một mũi tiêm
làm phúc. Người không biết thì bảo nó là thuốc hồi dương. Long não chỉ
làm cho cái xác sắp chết ấm lên một tẹo thôi.
Ra cái vẻ còn nước còn tát ấy mà, chứ ăn thua đếch gì…
– Thế là “anh giề” đi luôn?
Y tá khịt mũi ra chiều khinh bỉ:
– Đi là thế đéo nào? Cái giống tù là sống dai nhất hạng.
Cựu Tỉnh Trưởng lệt xệt đến bên giường người chết. Lão gày tong teo, già
nhất trong những người tù già trong toàn trại, mặt nhăn nheo như một
quả bưởi héo, nổi tiếng có học nhất trong cộng đồng tù, nhưng ít lời đến
nỗi tưởng như câm. Không biết vì lý do gì,
nhưng lão cũng được Ban giám thị cho nằm trạm xá từ đời y tá trước. Cái
sự được ở trạm xá lâu như thế làm cho lão trở thành có giá, biết đâu tổ
con chuồn chuồn, người ta nghĩ, có khi lão có họ hàng hang hốc với ông
kễnh nào trong các quan ở Cục hay ở Bộ chưa
biết chừng.
Y Tá hằn học nhìn Cựu Tỉnh Trưởng. Hắn coi Cựu Tỉnh Trưởng là kẻ làm mất
đi một suất trạm xá, suất ấy hắn có thể “chác” với những người tù khác,
, nhưng gã e dè không dám xử tệ với Cựu Tỉnh Trưởng. Trong trại, Cựu
Tỉnh Trưởng từng là bạn thiết của Người Tù
Già từ những năm cả hai còn chưa phải nằm trạm xá. Người ta thường thấy
bắt gặp họ im lặng ngồi bên nhau sưởi nắng.
Đứng bên người chết, Cựu Tỉnh Trưởng nghiêng đầu ngắm nghía bạn mình như thể ngắm một bức tranh.
– Này, “anh giề” tần ngần làm gì ở đấy đấy? – Y Tá nói với Cựu Tỉnh
Trưởng bằng giọng nhẹ nhàng – “Anh giề” rồi cũng thế thôi. Chẳng lâu nữa
đâu.
Cựu Tỉnh Trưởng không nghe thấy câu nói của Y Tá, hoặc làm bộ không nghe
thấy, tỉ mẩn xếp lại cái chăn phủ xác chết cho ngay ngắn.
– Thế mà tớ vừa tiêm cho “anh giề” một phát long não là “anh giề” hồi
lại liền. – Y Tá quay lại với câu chuyện – Cứ như thuốc tiên ấy. Vừa hồi
lại “anh giề” đã cuống lên, ú ớ một chập nữa, mà ú ớ rõ to nhá! Tớ đồ
rằng “anh giề” muốn lạy van tớ cứu lão…
– Có khi ông ấy muốn trối trăng điều gì… – Cựu Tỉnh Trưởng nói khẽ, như nói một mình.
– Anh bảo sao? Trối trăng à? “Anh giề” ấy thì có cái đéo gì mà trối với
trăng chứ. Đừng nói leo! Ra ngoài kia! – Sĩ Quan quát – Tôi bảo anh ra
ngoài kia.
Cựu Tỉnh Trưởng lẳng lặng trôi ra ngoài trạm xá như một cái bóng. Lão
ngồi bệt xuống đất bên bức vách, úp mặt vào hai bàn tay. Đôi vai gày của
lão rung lên từng chập.
– Mặc lão – Y Tá can Sĩ Quan, kể tiếp – Ăn xong, tớ mới ra xem “anh giề”
của tớ thế nào rồi, thì cha mẹ ơi, lão đã chống tay trái nhỏm dậy, tay
phải cầm đôi đũa…
– Thánh thật! – một người tù bình luận – Lão nằm liệt từ hôm qua rồi mà.
– Thế mà “anh giề” lại tỉnh, lại nhấc được tay, mới thánh chứ. Từ trước
đến nay, các cậu biết, tớ mà đã phán thằng nào tớ chịu, không chữa được
nữa, thì y như rằng thằng ấy ngỏm củ tỏi. Đã tưởng lần này mình sai bét.
– “Anh giề” ghê thật. Chết đi sống lại mấy lần rồi đấy.
– Đéo phải. Tớ không sai. Tớ vẫn đúng. Tớ thấy “anh giề” giơ đôi đũa về
phía bát thịt, bàn tay “anh giề” run run, cuối cùng rồi đôi đũa cũng
chạm được vào thành bát nghe đánh cóc một cái. Nhưng chỉ đến đấy thôi.
Đến lúc “anh giề” run run gắp được một miếng
thì hức, “anh giề” nấc lên một tiếng, cả người hắn ta giật lên…
– Xong phim?
– Xong! – Y tá xác nhận.
– Không kêu thêm một tiếng nào?
– Không. “Anh giề” ngã vật ra, đầu ngoẹo sang một bên. – Y Tá nói – Đéo
mẹ, tớ mà đã phán là trúng phóc. Có điều “anh giề” sống dai khủng khiếp.
Người khác thì đã ngỏm củ tỏi từ lâu…
– Gắp miếng thịt lên mà không ăn được, cái số con người ta sao mà khốn
nạn! – một người chép miệng, lắc đầu – Đúng là nhất ẩm nhất trác giai do
tiền định.
– Có cái gì khốn nạn hơn là số phận con người?!!
Người ngồi bên đế thêm và đưa cái điếu cày lên.
– Thế là đéo cần lệnh tha nữa.
Tiếng rít thuốc vang giòn giã.
5
Người Tù Già được chôn chiều hôm đó.
Không người viếng, không tiếng khóc, không vòng hoa. Đám ma tù là thế.
Khi buổi điểm danh lần thứ hai trong ngày kết thúc, tù đã được lùa vào
trong các phòng giam, cửa đã được khóa lại, thì mọi thủ tục cho sự ra đi
vĩnh viễn của Người Tù Già bắt đầu. Các bậc chức việc từ khu nhà Ban
giám thị ở ngoài trại lục tục mang hồ sơ đến,
lấy dấu tay xác chết, đối chiếu mặt xác chết với ảnh trong hồ sơ, lần
lượt ký tên vào biên bản tử vong.
Xong, lệnh mai táng mới được phát.
Tổ mai táng gồm bốn người lẻo khoẻo hì hục đặt Người Tù Già nằm vào
chiếc áo quan chật chội do đội mộc đóng bằng sáu tấm ván tiết kiệm, mỏng
tang và nứt nẻ, rồi đóng nắp lại. Tiếng đinh đóng lên ván thiên kêu
chan chát. Cái tiếng chan chát ấy chui vào trong
các phòng làm cho những người tù lặng đi đúng một phút, như thể họ mặc
niệm bạn tù vừa qua đời. Sau đúng một phút ấy, phòng nào phòng nấy lại
ồn ào như tổ ong.
Luồn hai sợi chão vào đáy, bốn người nọ gánh Người Tù Già ra nghĩa địa.
Theo mệnh lệnh của Sĩ Quan, được phát ra với vẻ mặt nghiêm trang, đội
mai táng đặt cái bát sắt tráng men cóc gặm đựng suất thịt của Người Tù
Già vào quan tài, bên cạnh ông lão. Bình thường, không ai để phí của
giời như thế. Bát thịt – tức là cả cái bát, cả
thịt bên trong – sẽ thuộc về một người nào đó, hoặc là bạn thân của kẻ
xấu số, hoặc một tên “vét đĩa” đáng thương. Hàng ngũ sĩ quan và “đầu
gấu” không bao giờ đụng đến đồ của người chết. Mệnh lệnh của Sĩ Quan làm
mọi người ngạc nhiên. Chưa bao giờ Sĩ Quan
ra một mệnh lệnh tương tự. Không ai biết rằng hắn tin Người Tù Già chết
vào chính Ngọ sẽ thiêng lắm. Nếu linh hồn Người Tù Già biết hắn đối tốt
với ông ta, hắn sẽ được đền đáp.
Trong trại không có đội mai táng chuyên nghiệp. Không kể những trận
dịch, không phải ngày nào cũng có tù chết. Thành thử gọi là đội cho
bảnh, chứ khi nào có người chết thì cán bộ mới gọi người đi chôn. Những
người được phân công nhiều lần nghiễm nhiên họp thành
đội. Mỗi lần đi chôn tù chết, đội được bồi dưỡng một yến sắn, cho dù
công việc không vất vả. Đó là mấy người được Ban giám thị đặc biệt tín
nhiệm. Tín nhiệm ở đây có nghĩa là người làm việc ấy không lợi dụng cơ
hội để trốn trại. Theo quy định, khi đưa tù đi
chôn phải có lính gác đi kèm, nhưng với những người được tín nhiệm thì
đôi khi lính áp giải phó mặc họ làm, làm xong tự về. Người lính áp giải
hôm nay cũng vậy. Đi khỏi trại một quãng anh ta phẩy tay cho bốn người
khiêng áo quan đi, còn tự mình rẽ vào xóm
dân ở gần đấy để tán gái, hoặc để mua bán đổi chác.
Khi đám ma ra khỏi cổng trại thì ánh mặt trời đọng trong thung lũng bắt
đầu nhạt. Mùa đông, trong lòng chảo lọt thỏm giữa vòng vây của những
ngọn núi cao núi thấp ban đêm lạnh thấu xương, nhưng ban ngày thì oi
bức. Thứ khí hậu khắc nghiệt này làm cho người
ta bao giờ cũng ở trong tâm trạng bực dọc.
Những người tù nghe thấy những người coi tù văng tục, không phải một lần:
– Mẹ kiếp, ở cái nơi này mình với thằng tù có khác chó gì nhau!
Tu Sĩ đi đòn trước thở hồng hộc. Lúc đi qua cổng trại, hắn lao ào ào,
kéo cả bốn người phải lao theo. Hắn đặc biệt dị ứng với cái cổng trại.
Cứ mỗi khi đi qua vòm cổng là hắn đi thật nhanh, dường như nó đè nặng
lên hắn, rằng nó mới là biểu tượng của sự giam
giữ đích thực, mới là nhà tù, chứ không phải phòng giam nơi hắn ở,
không phải khu trại có tường xây bao bọc và dây thép gai bịt bùng mắc
trên.
– Này Cha, từ từ chứ nào. Đéo gì mà như ma đuổi thế?
Tên Giết Người càu nhàu. Hắn bao giờ cũng giữ được dáng nhàn tản. Nhàn
tản làm, Nhàn tản ăn. Tưởng chừng khi hắn giết người đàn bà ở cái ga hẻo
lánh để cướp có một cái tay nải không biết trong có gì, hắn cũng ung
dung như thế – rút búa ra, nhằm cẩn thận, rồi
bổ một nhát duy nhất. Người nghe hình dung ra cảnh giết người đúng như
vậy khi hắn bình thản kể lại trường hợp phạm tội, vừa kể vừa nhấm nháp
từng ngụm trà nóng bỏng.
Tu Sĩ bao giờ cũng nghe lời Tên Giết Người, không dám cãi lại. Và tránh
xa hắn lúc nào có thể tránh xa. Tu Sĩ sợ hắn, có vẻ là như thế. Hoặc ít
nhất thì cũng rất nể hắn, như Nhà Báo kết luận. Tu Sĩ bị bắt trong một
lần giảng đạo “chui”, trong một bản miền núi.
Tội giảng đạo “chui” bị “quả tớm ” đại loại cũng như tội buôn lậu bị
bắt với đầy đủ tang chứng, không thể tha. Khác nhau ở chỗ, tên buôn lậu
được đưa ra toà xử, có án, còn người giảng đạo chui thì bị “boọp”, tức
là “tập trung cải tạo”, thứ tù không biết ngày
nào về.
Nhà Báo, cùng đòn khiêng với Tu Sĩ, thở dài. Trong lòng, hắn không ưa Tu
Sĩ, không ưa cái gọi là đức “khiêm nhường chịu luỵ” của Tu Sĩ. Hắn là
kẻ vô thần. Trong đầu hắn chỉ có chủ nghĩa duy vật, kết quả của một nền
giáo dục duy nhất hắn được hưởng. Hắn coi
khinh cái cách lý giải mọi sự đời kiểu “Một sợi tóc rơi xuống cũng
không ngoài ý Chúa” của tín đồ Thiên Chúa giáo.
Vào tù Nhà Báo mới có dịp thấu hiểu cái xã hội trong đó hắn phải sống sở
dĩ cứ nhơn nhơn tồn tại chính là nhờ thứ “khiêm nhường chịu luỵ” ấy,
nơi thay vào Chúa là Đảng và Nhà nước. Nhưng cái lý thuyết lởm khởm nọ
một khi đã chui sâu vào đầu hắn thì cứ ở lì
đấy để bắt hắn suy nghĩ theo cách nó biện giải sự đời. Hắn không thể
hiểu được vì sao con người rất mực hiền lành như Tu Sĩ lại có thể rơi
vào sự khốn khó này? Ờ thì chính quyền vô thần không ưa bất cứ tôn giáo
nào, nhưng ngoài mặt nó tỏ ra không ngăn cấm
tự do tín ngưỡng, nó đâu có tiêu diệt đạo nào. Nó chỉ tìm đủ cách không
cho các tôn giáo tranh giành địa vị kẻ cai trị tinh thần với nó mà
thôi. Hắn khác, hắn có tội thật, vì hắn đã dám vượt rào phát biểu những ý
nghĩ phạm thượng với những người luôn khuyến
khích hắn sử dụng quyền dân chủ để xây dựng đất nước. Chính những người
đó đưa hắn đi tù.
Tu Sĩ ít nói, hắn giấu giếm làm dấu thánh, giấu giếm đọc kinh vào ban
đêm, khi mọi người ngủ say. Những người tù Thiên Chúa giáo kính trọng
hắn . Một lời của Tu Sĩ nói ra được họ coi như một lời của bề trên mà họ
phải nghe theo. Qua lời kể của họ, Nhà Báo biết
rằng chỉ còn thiếu một chức thánh nữa là Tu Sĩ thành linh mục. Có lẽ vì
thế mà những người ngoại giáo trêu chọc gọi Tu Sĩ bằng Cha. Tu Sĩ cam
chịu mọi sự trêu chọc và trên gương mặt bất động của hắn tỏa ra một ánh
hạnh phúc, hoặc chí ít cũng là niềm vui, từ
sự cam chịu đó.
– Này Cha, Cha có nghiệm thấy người chết nặng hơn người sống không? –
Nhà Báo bâng quơ hỏi Tu Sĩ – Nói ví thử như lão này, gày như cá mắm, thế
mà bây giờ thì nặng chình chịch.
– Cái đó không có lý – Tu Sĩ trả lời – Trọng lượng con người ta lúc sống thế nào thì lúc chết thế vậy.
– Vậy thì trong trường hợp này phải có hai thứ trọng lượng, thưa Cha:
trọng lượng tuyệt đối và trọng lượng cảm tính. Chính cái chết đã sinh ra
cảm giác người chết nặng hơn lúc còn sống
Nhà Báo nói và ngẩng đầu nhìn bầu trời hoàng hôn sơn cước, thứ hoàng hôn
cô tịch màu lam ngả sang màu tím. Sương mù trong thung lũng không bao
giờ đọng lại dưới lòng chảo lúc hoàng hôn. Chỉ lúc ấy không khí mới có
màu hổ phách trong vắt. Mải nhìn trời, hắn
vấp phải hòn đá trồi lên trên mặt đường làm cho cái quan tài nhao đi
cùng với cái vấp của hắn, và từ trong áo quan vẳng ra một tiếng nấc,
hoặc một tiếng ợ.
– Cha mẹ ơi, ông ấy còn sống!
Tên Cắp Vặt, trẻ tuổi nhất trong đội mai táng quăng vội cây đòn, nhảy
phắt sang một bên. Mặt hắn trắng bệch. Cái quan tài giộng xuống đường
đánh cái kịch, đổ nghiêng. Nghe rõ tiếng xác chết va lục cục mấy lần vào
thành áo quan.
6
Bốn người tù bắt đầu đào huyệt. Trên nghĩa địa tù không có lấy một ngọn
gió. Tu Sĩ bắt mệt nhanh hơn ba người còn lại. Mồ hôi chảy thành dòng
trên mặt hắn, mặc dầu khi nắng tắt thì cái lạnh cũng bắt đầu ào ạt dâng
lên.
Nhà Báo trầm tư xúc từng xẻng một.
– Cha không cần phải vội – Nhà Báo nhìn Tu Sĩ chăm chú đào – Nghĩa địa
không phải bến ô tô. Đã đến đây rồi không ai bị lỡ chuyến hết.
Tu Sĩ đưa cánh tay quệt mồ hôi trên trán. Trong tầm mắt của hắn là một
vùng nhấp nhô mả lớn mả bé, mả cũ mả mới. Khi Tu Sĩ được đưa tới đây, ba
năm trước, nghĩa địa tù chỉ là một mảnh vườn đầy cỏ gà, cỏ xước và
những bụi chó đẻ.
– Làm nhanh rồi còn về – Tu Sĩ nói.
– Tôi không vội, thưa Cha – Nhà Báo nói – Tôi không có nhà để mà về. Ở
đây, giữa thiên nhiên, tôi thanh thản. Tôi muốn kéo dài thời gian thanh
thản này.
– Thôi đi mày – Tên Giết Người gắt – đừng tán dóc. Tao với mày lại sắp được một bữa sắn nhoè, thanh thản là cái đéo gì.
Nhà Báo nhổ bọt vào lòng bàn tay để cầm cán xẻng cho đỡ rát, lẳng lặng
xục lưỡi xẻng vào đất bán sơn địa lổn nhổn sỏi vụn và đá son.
– Mày không thấy lão Cựu Tỉnh Trưởng à? Mặt lão bệch ra rồi. Chẳng còn
được mấy nả đâu. Lão sẽ đi trước. Sau mới đến lượt thằng Ngựa Điên.
Tên Giết Người thích gọi Nhà Báo bằng “mày” để nhấn mạnh tính chất bình
đẳng giữa hắn và Nhà Báo, thứ bình đẳng chỉ nhờ nhà tù mà có. Ở ngoài
đời hắn chưa từng gặp một nhà báo nào, đừng nói tới chuyện được ngồi ăn
cùng, được vỗ vai, được văng tục, được mày
tao chi tớ thoải mái với một thằng trí thức như thế.
Nhà Báo trong thâm tâm không thừa nhận sự bình đẳng ấy, hắn cảm thấy khó
chịu, hắn còn buồn nữa, gọi là tủi thân thì đúng hơn, nhưng hắn không
phản đối. Trong tù cần phải biết chấp nhận mọi điều bất bình thường,
phải biết coi tất tật mọi sự là lẽ đương nhiên
Nhà Báo lắc đầu:
– Cựu Tỉnh Trưởng còn trụ được lâu.
– Cuộc nào, tao bảo nội trong tuần này là hắn xong phim – Tên Giết Người hất hàm – Hai suất cơm, chịu không?
– Đừng cuộc – Tu Sĩ khuyên Nhà Báo – Ông ấy nói đúng đấy.
– Tại sao?
– Tôi đã nhìn thấy bóng Thần Chết trên mặt ông Cựu Tỉnh Trưởng.
– Thế còn Ngựa Điên? Cha bảo sao? – Nhà Báo hỏi lại.
– Anh ấy thì đúng là còn lâu.
Tên Giết Người cười lớn. Hắn không biết kết luận thành lời những ý nghĩ, nhất là những cảm xúc của hắn.
Ngựa Điên là kẻ mà Tên Giết Người ghét cay ghét đắng. Bởi vì sự có mặt
của Ngựa Điên làm lu mờ rất nhiều danh tiếng của hắn. Cái tên Ngựa Điên
sở dĩ có là do những cái răng cửa dài hơn bình thường và cặp mắt long
sòng sọc của người tù mang án chung thân vì
tội giết người. Những người tù kính trọng Ngựa Điên vì hắn giết người
chỉ để trả thù cho người cha bị bức tử trong cải cách ruộng đất. Tên
quan toà xử cha hắn ta về sau giàu sụ, nhưng Ngựa Điên hạ sát kẻ thù
xong chỉ cắt cái thủ cấp của hắn rồi ra về, tịnh
không động đến một chút gì gọi là của cải. Đặt thủ cấp kẻ thù lên ban
thờ cha xong, hắn xách con mã tấu lên đồn Công an đầu thú.
Dọc đường, Tên Cắp Vặt im lặng, không tham gia chuyện người lớn. Bé
người, nhưng hắn có thâm niên tù cao nhất so với các bạn trong đội mai
táng. Hắn vào tù từ lúc còn bị cưỡng bức học trường Phổ thông Công nông
nghiệp, thực ra là một hình thức giam giữ thiếu
niên hư hỏng. Hắn bị đưa lên trại sau khi ngủ với một cô giáo ở trường
làm cho cô ta có mang.
Cái huyệt được đào xong.
Nhà Báo ngồi lên cán xẻng, bên cạnh quan tài Người Tù Già, nhàn nhã đánh
diêm châm điếu thuốc. Mấy người kia cũng hút, kể cả Tu Sĩ. Bốn làn khói
khét lẹt bay lên trên nền núi xa đã sẫm hơn trên nền trời về tối. Hoàng
hôn ở đây bắt đầu sớm nhưng trôi đi rất
chậm. Trời mỗi lúc mỗi lạnh.
Tên Giết Người bấm Tên Cắp Vặt, hai đứa lảng ra xa. Ở đó chúng thì thào
với nhau, thỉnh thoảng lại liếc về phía Tu Sĩ và Nhà Báo.
Nhà Báo, bằng con mắt nghề nghiệp, đoán chúng đang bàn chuyện gì đen
tối. Hắn theo dõi hai đứa theo thói quen, vì tò mò, chứ mọi âm mưu, mọi
thủ đoạn của những người bạn tù đủ mọi loại, đối với hắn chẳng có nghĩa
lý gì. Hắn đứng trên, đứng xa mọi sự, dửng dưng
với mọi sự. Với bộ lạc tù, hắn được coi là vô hại. Một người dửng dưng
với sự đời không bao giờ làm ăng-ten.
Tên Giết Người quay lại bên huyệt, lạnh lùng nói:
– Thưa Cha, xin Cha vui lòng đi ra đàng kia… Một lát thôi. Và quay mặt đi cho con nhờ.
Tu Sĩ không nói không rằng đi ra xa, ở đó hắn đứng yên như tượng, nhìn lên trời.
– Còn mày nữa, Nhà Báo, mày cũng ra đàng kia. Và quay mặt đi.
– Các anh định làm gì vậy? – Tu Sĩ quay mặt lại, hỏi.
– Cái đó không liên quan đến Cha. Đi xa nữa đi.
Tu Sĩ lẳng lặng bước xa thêm. Hắn ngắm nghía những đám mây bay chậm trên
đỉnh núi cao nhất, lấp lánh màu sắc xà cừ. Những màu sắc thay đổi rất
nhanh. Tu Sĩ bất giác nhớ đến những hoàng hôn biển ở quê mình và thở
dài. Cuộc đời bên ngoài tù ngục vẫn cứ là đẹp,
dù hắn đã sẵn sàng chịu đựng mọi khốn khó Chúa trao cho để thử thách
đức tin của hắn.
Nhà Báo cười gượng gạo:
– Tao thì xem được chứ? Vì tò mò thôi.
– Tùy! Nếu mày muốn – Tên Giết Người buông sõng và cầm lấy cái xẻng.
Đôi vai Tu Sĩ giật lên khi nghe tiếng két kéo dài của tấm ván thiên được cậy lên.
– Mày tin là ở trong áo bông? – Tên Giết Người hỏi.
– Người ta bảo thế – Tên Cắp Vặt đáp khẽ.
Tên Giết Người ra lệnh:
– Được. Bây giờ dựng hắn ta dậy.
Tên Cắp Vặt lùi lại, mặt tái mét.
– Em sợ!
– Đồ hèn! – Tên Giết Người cười và nhổ bọt – Quá hèn.
Tên Cắp Vặt xua tay:
– Chớ! Chớ nhổ bọt.
– Thì sao?
– Người ta kiêng.
Tên Giết Người ném cho Tên Cắp Vặt một cái lườm bỏng rẫy rồi xoạc cẳng
đứng trên đầu áo quan nhìn xuống. Hắn thấy sắc mặt Người Tù Già không
xám ngoét như lúc nhập quan, mà bỗng có chút hồng. Cái đó có thể do ánh
sáng của mặt trời đã lặn phản chiếu từ đám mây
trên trời cao mà ra. Tên Giết Người nhớ đến chuyện một người tù đã đem
chôn mà sống lại, vùng ra được khỏi huyệt lần về trại. Hắn cúi hẳn
xuống, tát vào má Người Tù Già mấy cái xem lão có phản ứng gì không,
nhưng lão nằm yên.
– Đừng, ông – Tên Cắp Vặt nói, giọng van vỉ – Đừng làm thế.
Đáp lại, Tên Giết Người cười khẩy. Hắn nắm lấy hai vai xác chết, giật
mạnh. Xác chết bật dậy, đứng dựa vào ngực Tên Giết Người. Hắn, một tay
đỡ xác chết cho nó khỏi đổ, tay kia lục lọi quần áo người chết.
Nhà Báo nhìn thấy cằm của Người Tù Già tựa vào vai Tên Giết Người, trên gương mặt bất động của xác chết đôi mắt hé mở, lờ đờ.
– Chẳng có chó gì hết – Tên Giết Người càu nhàu – Mày nói thế nào ấy…
– Hay là ở trong áo bông? – Tên Cắp Vặt lí nhí.
– Đưa tao con dao.
Tên Cắp Vặt đưa cho Tên Giết Người con dao to bằng đốt ngón tay làm bằng
sắt đai thùng. Roạt, roạt. Tên Giết Người rạch mấy đường làm cho bông
gòn trong áo bay loạn lên trong gió.
– Đéo có chó gì hết – hắn càu nhàu.
– Có khi ông ấy giấu trong quần lót, ông ạ – Tên Cắp Vặt lùi ra xa, mặt xám không kém gì mặt xác chết – Ông “loại” kỹ xem.
– Lại đây, thằng vô tích sự!
Nghe hắn gọi, Tên Cắp Vặt không những không đến gần mà còn lùi thêm vài bước.
– Lại đây! – Tên Giết Người gắt – Sao mày nhát thế?
Nhưng vô hiệu, Tên Cắp Vặt trợn tròn mắt, cái nhìn dán chặt vào bộ mặt bất động của xác chết.
Nhà Báo nhếch mép, nhưng không cười. Cảnh tượng ấy chẳng thích hợp với nụ cười nào.
– Thôi, mày – Nhà Báo phẩy tay – Chôn lão đi, rồi còn về.
Ngoái cổ lại, hắn nhìn thấy Tên Giết Người và Người Tù Già vẫn đứng tựa
vào nhau. Hệt như Tên Giết Người đang vuốt ve Người Tù Già và đang thủ
thỉ chuyện gì đó với lão.
– Họ vẫn chưa xong hả? – không quay mặt lại, Tu Sĩ hỏi vọng Nhà Báo.
– Chưa.
Cảnh tượng Tên Giết Người lục soát xác chết làm cho Nhà Báo thấy trong lòng mình sôi lên một nỗi giận dữ khó hiểu.
Và chẳng biết làm gì với nó, hắn bước mấy bước về phía Tu Sĩ.
– Này Cha – hắn nói – Cha tin là có Chúa?
– Tôi hằng tin ở Người – Tu Sĩ đáp, mặt hết sức nghiêm trang.
– Vậy thì Chúa ở đâu?
– Chúa ở khắp mọi nơi. Chúa thông biết mọi sự.
– Cả ở đây nữa chứ thưa Cha, – Nhà Báo mai mỉa – Trong cái chốn chúng ta đang ở này này?
– Trong cả chốn này.
– Thật sao?
– Và cả trong ta – Tu Sĩ nhấc tay làm dấu
– Và Chúa công bằng? – Nhà Báo gặng.
Tu Sĩ vẫn nghiêm trang:
– Không ai công bằng hơn Chúa.
Nhà Báo bỗng phá lên cười. Tiếng cười ngạo nghễ của hắn bay xa, đập vào vách núi rồi lại vẳng lại “ha..ha..ha..ha.. ha …a..a…”!
Khi tiếng cười yếu dần rơi xuống ở đâu đó trong những lùm cây đã biến
thành những khối đen, Nhà Báo nghe tiếng một vật nặng đập vào gỗ. Hắn
đoán Tên Giết Người đã xong việc, vừa ném Người Tù Già trở lại áo quan.
– Cho mày! – Nhà Báo nghe thấy Tên Giết Người nói.
– Không. Cháu cảm ơn ông.
– Sao? Mày chê ít à?
– Không! Cháu không lấy đâu.
– Mày sợ hả?
Tên Cắp Vặt lắp bắp:
– Cháu thấy… cháu thấy…
– Thấy cái gì?
-… Ông ấy lườm cháu. Tại cháu đầu têu…
Tên Giết Người ngửa mặt lên trời mà cười to.
– Mày không lấy, tao lấy. Tao cóc sợ con khỉ khô nào hết.
Rồi chợt nghĩ ra điều gì, hắn cúi xuống nhặt cái bát sắt tráng men mà
thịt ở trong đã đổ tung toé ra áo quan khi nó bị rơi xuống trên đường.
– Hoài của, cái bát còn tốt – Tên Giết Người ngắm nghía cái bát rồi nói – Cho mày đấy.
– Không! – Tên Cắp Vặt rền rĩ – Không. Cháu không lấy đâu. Tiền cháu còn không lấy nữa là cái bát.
– Thế thì tao cho mày một cái bạt tai – Tên Giết Người quát – Có lấy không? Này đây!
Vang lên một tiếng bốp, rồi tiếng Tên Cắp Vặt nấc lên, không rõ vì đau hay vì sợ.
Tên Giết Người đóng nắp áo quan. Hắn cũng chẳng buồn đóng đinh. Tấm ván
thiên xô sang một bên, để lộ nửa mặt người chết, khi bốn người lặng lẽ
thòng dây chão vào dưới áo quan để thả nó xuống lỗ huyệt đen ngòm. Chẳng
nói chẳng rằng, họ xúc đất đổ xuống huyệt
cho đến khi nó được lấp đầy.
Tu Sĩ là người cuối cùng còn làm việc sau khi ba người kia đã ngồi nghỉ.
Khi nấm mồ đã được Tu Sĩ đắp xong lùm lùm cho ra vẻ một nấm mồ, Tên Cắp
Vặt đứng dậy, chạy hộc tốc về phía con suối ở đầu kia của nghĩa địa, từ
đó hắn lặc lè vác một tảng đá đi về phía ba người đứng đợi. Tảng đá nặng
làm hắn thở dốc. Hắn liếc nhìn Nhà Báo và
Tu Sĩ rồi nhẹ nhàng đặt tảng đá xuống đầu nấm mộ. Đoạn lấy tay vun đất
chung quanh cho cao thêm.
“Món hối lộ của một lương tâm khiếp đảm”, Nhà Báo nghĩ thầm.
Bốn người tù ra về.
Ngày hết.
Khi họ xuống con suối gần đấy rửa chân tay, Nhà Báo cà khịa với Tu Sĩ:
– Nếu có Chúa và Chúa là công bằng thì ít nhất Chúa cũng phải để cho ông
lão tội nghiệp nọ ăn xong bữa tươi hôm nay đã… Chúa toàn năng trong
trường hợp này còn nhẫn tâm hơn cả người thế tục.
– Lạy Chúa tôi lòng lành! – Tu Sĩ sợ hãi kêu lên.
– Ít nhất thì Chúa cũng phải làm một điều gì đó cho con người bất hạnh ấy chứ, phải không? Nếu không, Chúa sao còn là Chúa?
Tu Sĩ rùng mình trước lời nói báng bổ của Nhà Báo, lẳng lặng ngước mắt lên trời, thành kính làm làm dấu thánh.
– Caeli enarrant gloriam Dei!
Bầu trời đêm chết lặng trước mắt hắn. Những tầng trời sáng danh Chúa.
Tu Sĩ lẩm bẩm và thở dài não nuột.
Kính tặng hương hồn bạn tù Nguyễn Thái Bút
No comments:
Post a Comment