NHÀ TÙ NHỎ, NHÀ TÙ LỚN


 

 Cát Sô Số Bốn

Mấy đứa con nít đu người, dòm xuống. Chúng nghịch ngợm, cười khóc. Oà oa. Oe oe. Hu hoa. Cười rúc rích. Nói bi bô. Chúng đang lay, đang gọi. Sao chỉ có vậy? Các con tôi đâu? Chúng không tới kịp à? Người ta đóng cái nắp lại mất.

Sâu. Ngộp. Không vùng vẫy được đâu. Tay chân bị cột rồi. Có đứa con nít bò lại. Nó nhay nhay. Rứt rứt thịt. Nó cắn.

Đứt tung dây. Tôi vùng dậy. Trần mùng chụp xuống đầu. Mơ? Đâu phải. Cảm giác tê đau, vừa nhói lên đầu. Đôi mắt tròn, nhỏ như hạt đậu, nhìn ngạc nhiên, tức giận, mưu mô, thách thức. Miệng tôi há hốc, mắt bị dính cứng vào nó. Nó vừa cắn. Con chuột. Bộ tưởng tôi là xác chết rồi hả? Coi chừng. Nó tấn công. Nó cắn nữa. Phải hất nhanh cái mùng. Thật nhanh. Có đường thoát, con chuột phóng ra, mất dạng.

Tiếng đập hốt hoảng, vang dội, truyền đi trong các bức tường, rồi tiếng ồn ào từ cát sô này sang cát sô khác.

“Số bốn. Chị Nhã Ca đấy.”

“Cái gì vậy? Có sao không? Chị Nhã.”

“Chuột. Con chuột.”

Những tiếng cười rộ. Tôi nuốt nước bọt. Cổ họng khô đắng. Tôi la hoảng lúc nào vậy?

“Chị thấy chuột đực hay chuột cái, chị Nhã ơi.”

Tiếng cậu bé Dương Rùa Đen – người nghe nói đã đặt chất nổ làm sập hồ con rùa – bên cát sô 9.

“Đúng con chuột cái của mày đó, Rùa Đen. Nó xổng rồi. Bỏ mẹ mày, em ạ.”

“Chị Nhã Ca. Ngủ cũng phải lao động. Nhúc nhích nhúc nhích. Đôi khi lũ chuột tưởng mình ngỏm rồi, tự nhiên xơi.”

“Chị Nhã à. Nằm xuống đi. Đừng sợ nữa. Em hát cho chị nghe.”

Giọng Hùng, cát sô 5. Tiếng huýt gió trong vắt, lớn lối, mạnh mẽ, quen thuộc. Tiếng hát muốn nện vỡ đêm tối.

Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng…

Ấm áp trở lại. Tội nghiệp Hùng. Mặt mũi cậu em ra sao nhỉ? Ngay lần đầu vào cát sô, đã nghe giọng Hùng. La. Nạt. Vẫn rổn rảng nói, rổn rảng hát. Không ngán kỷ luật à? Hì, kỷ luật gì nữa. Hùng Vinh Sơn mà chị. À, vụ Vinh Sơn đây. Công an tấn công vào nhà thờ. Hùng nổ súng chặn lại. Tử thủ. Nay mai, đôi khi lát nữa, chúng lôi em ra xử bắn bây giờ ấy mà, còn gì để ngán nữa. Vậy là huýt gió, lại hát, lại đùa giỡn.

“Kêu chị là chị Nhã, Hùng ạ.”

Lâu rồi, chả hiểu vì sao, tôi bảo Hùng vậy. Chỉ những bạn bè thân của chúng tôi, mới kêu tên này.

“Chị Nhã, chị biết cát sô bốn chị đang ở có gì lạ không? Cha Hoàng Quỳnh chết trong đó.”

“Linh mục Quỳnh, ai vậy?”

“Chị mà không biết cha Hoàng Quỳnh? Cha chánh Xóm Mới. Trước nữa, chỉ huy chiến khu Phát Diệm ở miền Bắc.”

“Chết? Làm sao chết?”

“Già, tù. Tại cuốn Thánh Kinh nữa. Cuốn kinh nhỏ xíu à. Giấu. Giấu được. Tối nào Cha cũng đem ra đọc. Giám thị biết. Rình. Bắt. Tịch thu. Phó Phận chớ ai. Hắn giằng lấy, xô Cha té.”

“Lấy được không?”

“Được. Giập đầu.”

“Giập đầu chết à?”

“Không biết. Nhưng chết trong cát sô, ngay chỗ chị nằm đó.”

Chỗ nằm: Cái bệ xi măng đã hư bể, lồi lõm với những lỗ hổng lớn. Bệ nằm nối vào cái cầu tiêu có vòi nước. Suốt tháng mưa, nước mưa theo tường vôi loang lổ ngấm xuống. Nước hầm cầu lụt, đêm đêm sủi lên từ chỗ nằm.

Linh mục Hoàng Quỳnh, tôi đã nhớ ra có lần nghe nói đến tên ông, người quyết định những cuộc biểu tình của khối công giáo di cư ở Sài Gòn. Những bà mẹ già mang tràng hạt vô dinh Gia Long ngồi ăn trầu. Vậy là Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu bị giải nhiệm, thủ tướng dân sự Phan Huy Quát phải trao quyền cho hội đồng Quân Lực. Vị Linh Mục quyền uy, được trọng nể ấy đã chết ngay trong cát sô này. Chả biết khi ông ở đây, nếu mưa, ông cầu nguyện trong tư thế nào. Có phải gác hai chân sắp tê liệt lên tường, giống như tôi không.

Những vách tường loang lổ kia nữa. Phải có tí dấu vết của những người đã sống hay chết ở đây chứ. Tôi đã rờ rẫm, xem xét khắp vách tường. Những vạch ngắn, chắc để ghi ngày tháng. Những tên người. Thấy có tên Nguyễn Tú. Tôi nhớ. Ông ta là phái viên chiến trường của báo Chính Luận, người đầu tiên loan tin quân đội Việt Nam Cộng Hòa rút bỏ PIeiku, cuộc tháo chạy hoảng loạn trên tỉnh lộ 9. À, Nguyễn Tú đã ở đây. Ông ta còn sống hay đã chết. Không thấy tên vị Linh Mục. Ông có vạch nét nào lên mảnh tường vôi này không nhỉ? Chắc không.

Ông còn bận cầu nguyện. Tiếng hát của Hùng vẫn ấm áp.

Đêm đêm người mở lòng ra
Ru ta trong cánh tay ngà…

Có tiếng dép lê lết. Giọng vệ binh:

“Anh Hùng giữ nội quy. Yên lặng.”

“Yên lặng thế nào được. Có con ma. Nó thở khò khè ngay ở lối đi đấy. Cán bộ coi chừng.”

“Cái anh này. Ngủ đi.”

“Ngủ không được, phải hát cho đỡ ngứa.”

Tiếng dép xa dần. Giọng từ cát sô 6:

“Ngứa, mày bỏ áo ra, cà mạnh lưng vào tường. Tao nghĩ ra cách đó.”

“Xưa quá cụ ơi, tôi phát minh ra cách gãi bằng chân đã lắm.”

“Thằng xạo.”

Lần thứ mấy vào cát sô? Ba? Bốn? Ngày mấy? Tháng mấy? Chẳng thể nhớ nổi. Sau buổi làm việc “giai đoạn hai”, tôi tỉnh dậy ở cát sô này. Vài bữa, miếng sắt nhỏ trên cửa đẩy ra, tống vào một gói nhỏ. Mớ bông vệ sinh cho phụ nữ. Ở đâu ra món này? Ai có thể gửi? Một trong mấy người hỏi cung? Đòn phép? Vụt trả ra hành lang. Không lỡ là tình người, sẽ nguy cho người lén lút gửi. Thôi, tôi cảm ơn, tôi nhận.

Tiếng Hùng:

“Ngày giờ em còn ít lắm chị ơi. Tử hình mà. Nửa đêm, thấy chúng mang em đi là tới giờ rồi đấy.”

Lại huýt gió, lại hát. Hùng ra sao nhỉ? Vui vẻ, hoạt động. Phải vậy, đừng ngồi một chỗ.

Từ bao ngày rồi, tôi đã cố tập thành thói quen. Sáng sớm: Tiếng nện điểm danh rền rĩ khắp hai dọc cửa sắt. Vùng dậy. Làm vài động tác. Hai chân đã teo tóp trông thấy. Sắp như đôi chân của Linh mục Thanh. Đi nữa. Thở nữa. Ngoài hành lang còn nhiều không khí lắm.

Công việc chính hàng ngày: Phải canh chừng lúc nào thì mở vòi nước. Chỉ có nước mười lăm phút thôi. Tắm, giặt, trữ nước. Phải tạt nước ướt lai láng nền xi măng, để chống lại cái nóng khủng khiếp buổi trưa từ mái nhà hắt xuống. Phải ráng làm vệ sinh trước giờ mở nước. Nếu không kịp, sẽ cả ngày hôi thối. Đôi lúc phải chịu đựng qua đêm, bởi xuất nước buổi chiều thường chỉ ri rỉ, quên nhiều hơn nhớ.

Ngứa nữa. Tàng cây xanh. Vườn cỏ. Nắng. Gió. Những mụn ghẻ sơn phết xanh lè đòi nhớ. Làm sao chúng mọc nhanh vậy được? Từ bao giờ? Mới hôm nào nhỉ? Sửng sốt nhìn bên tập thể khu B. Trưa nóng, những thân hình gần như trần truồng, bôi lằn ngang dọc thứ thuốc ghẻ xanh lè ấy, đứng nhẩy nhẩy. Hình như đã ngứa ngáy, sần sùi từ thời đó. Cái mùi diêm sinh kinh tởm của thứ thuốc ghẻ này, sáng nào cũng phải tỉ mỉ chấm trên da, trên thịt. Nhắm mắt. Cắn răng. Không khí. Mặt trời. Biển. Quả banh vật vờ theo lượn sóng. Lũ con thơ, da dẻ sạm nắng. Long Hải. Vũng Tầu. Mới đó, chỉ còn trong mơ.

Mỗi ngày, ở đâu ra tiếng chim kêu? Trên mái nhà? Ngoài vườn?

Bên tai? Trong đầu? Trong bụng? Chim kêu đúng giờ lắm. Ráng đi bộ thêm chừng tám chục vòng trên lối đi dài hai thước rưỡi nữa là có cơm đến. Đó. Miếng sắt nhỏ đẩy ra?

“Số bốn. Cơm.” ·

Phải sẵn sàng hít, thở. Cùng lúc với chén cơm đưa vào, sẽ có chút không khí, ánh sáng. Đôi khi không có vệ binh đi theo, có thể còn có vài câu nói nhỏ “anh ấy vẫn mạnh”.

Người phụ trách đưa cơm cát sô là Hải, cựu Việt Cộng, đi tù vì tội hồi chánh, ban ngày, được cho ra lao động. Hồi mới vào cát sô. Chính nhờ Hải chỉ mà tôi biết treo mùng: Cơm này này. Nhồi cho dẻo dán nhiều miếng giấy vuông lên nhau. Chừa lỗ ở giữa, móc cây tăm. Dán lên tường, chắc lắm. Chiều tôi cho chị cây tăm.

Tiếng chim tắt. Đưa chén cơm lên đúng luồng ánh sáng từ những khe nhỏ chiếu xuống. Lựa sạn, sỏi, thóc, bông cỏ trong lưng bát cơm. Không chỉ thở mà đủ đâu. Phải lựa riêng những hạt thóc còn nguyên, để dành. Hùng nói: “Uớc chi cái miệng em nhỏ lại, ít răng hơn, bát cơm ăn sẽ lâu hơn tí nữa.”

Cứ khoảng giữa chiều, cái giọng hết hơi bên cát sô 7 lại cất lên:

Lúa vàng, lúa vàng.
Trên cánh đồng làng…
Tang tình tang…. lúa ơi…

Giọng hát phều phào này muốn cạnh tranh với Hùng Vinh Sơn?

Không phải đâu. Hơi sức gì nữa. Đôi lúc, vừa tới cánh đồng làng đã tắc tị. Chờ hoài không thấy hát cho dứt câu, cậu bé Dương Con Rùa cười rộ lên: “Cái bác này, cơm không đủ ăn mà cứ tới cánh đồng làng là… ngồi xuống.”

Đó là lúc tôi đang ngồi tách những hạt thóc dành lại từ bát cơm trưa. Ông ta chắc cũng thế. Bị chế riễu gì cũng cứ hát. Tang tình tang lúa ơi thì hát thành úa ơi. Ông kỹ sư gì đó bên cát sô 13, thường nhái câu nói nổi tiếng trong “số đỏ” của Vũ Trọng Phụng: “Biết rồi. Khổ lắm. Hát mãi. Cụ ơi, nhai kỹ đi, cạnh lúa sắc lắm, coi chừng mắc cổ.” Cứ thế, vắng vệ binh là các thượng khách cát sô phải tìm cách trò chuyện, đùa rỡn, cố văng mình ra khỏi cái nhà mồ chôn sống một tuí.

Ngày mấy? Tháng mấy? Thây kệ.

Có bữa, khi đưa chén cơm vào, Hải thì thầm:

“Trong cơm, cát sô 10 gửi chị.”

Giấu trong chén, một miếng đường thẻ, một miếng thịt nhỏ, thêm tờ bạc 5 đồng gấp gọn. Những người tù ở cát sô thường chia sớt cho nhau. Cát sô 10 mãi cuối dẫy, tên Cát. Cát là tên thật của Đằng Giao, bố cu Red. Phải hắn ta không? Sao chưa bao giờ nghe thấy giọng hắn. Cuối dẫy, xa lắm, khó nghe rõ.

Nửa khuya, tiếng đập cửa rầm rầm. Các cát sô truyền nhau: Số 10 đau nặng.

“Báo cáo cán bộ. Biệt giam có người sắp chết.”

La gọi đủ kiểu, lâu lắm, mới có tiếng dép lẹp xẹp tới:

“Anh Cát. Sao vậy?”

Xôn xao một lúc, được một miếng nước lạnh. Gì cũng phải đợi sáng ra, mới có y tá. Sáng, dộng cửa điểm danh. Cát sô 10 im tiếng. Anh Cát đã chết. Tôi đã thay anh, ăn cục đường miếng thịt.

Nín thở, dán mắt vào khe cửa, chờ nhìn xác mang ra. Một người lạ. Không phải Đằng Giao.

Ngày mấy? Tháng mấy? Thây kệ.

Tiếng chim kêu à? Không phải. Chưa đâu. Chỉ là tiếng chân. Đi tới. Dừng lại.

“Đi chứ, anh Dương?”

“Không, cán bộ ơi. Chị Nhã Ca ở đây phải không? Tôi chưa hề biết mặt chị ấy. Tôi muốn xin chị cục đường.”

“Anh sẽ bị còng cổ. Tôi bảo anh bước.”

“Chị Nhã Ca, chị mua đường chưa?”

Tiếng cười của cậu bé bay nhẩy ngoài hành lang. Mặt mũi cậu ta ra sao nhỉ? Tội nghiệp, làm thế nào có được cục đường gửi cho cậu ta.

Ngày mấy? Tháng mấy? thây kệ. Quà thăm nuôi, Hùng báo:

“Có giỏ thăm nuôi của chị, đặt ngoài cửa rồi.”

Hùng cao, chắc thường nhẩy đu người lên được, kiếm cách nhìn ra.

Thấy người này, người kia, Hùng phê bình:

“Cái thằng Dương oắt con vậy mà làm nổ cả hồ Con Rùa à?”

Hôm nay anh Cát chết bên số 10, Hùng nói:

“Này, trông ông Cát chết không bình thường. Khiêng qua thấy cái mặt tím bầm, sưng to như cái mâm.”

Lúc này đang là tin thăm nuôi: Cát sô 18 chắc cúp.Tới giờ không thấy giỏ. Sáu giờ chiều, mở cửa cát sô đưa giỏ thăm, Hùng reo: “Em thấy được chị rồi, chị Nhã Ca. Đâu nghĩ chị ốm vậy. Chị được nuôi có chừng đó thôi à?”

Tôi soạn giỏ thăm. Gói muối vừng, muối xả, chút cá kho, dăm cục đường, vài thứ linh tinh. Các con tôi nấu nướng bằng đồ chơi trẻ con của chúng. Giỏ thăm của anh ấy ra sao nhỉ, có khá hơn được tí nào không? Bố mẹ ăn hết phần các con rồi còn gì. Mảnh giấy kèm theo giỏ thăm. Chữ đứa con gái đầu: Mẹ ơi, mẹ ráng học tập tốt..ai dậy chúng viết thư nào cũng vậy. Chúng con gửi vào cho mẹ....tên các món. Dưới cùng có nét chữ lớn xiêu vẹo: Kẹo con gửi Mẹ…Đứa con gái áp út đang tập đọc, tập viết. Chữ nó đó. Bốn cái kẹo thảm hại, xa lạ. Kẹo Hải Phòng. Ở đâu nó có được thứ này?

“Số 4. Cơm.”

Tôi quên chờ tiếng chim kêu. Sao hôm nay không hót nữa bên tai tôi. Giọng Hải:

“Chị Vân. Hồi sáng anh Vĩnh té, bất tỉnh.”

Tôi cố nuốt nước miếng, nuốt tiếng kêu. Té làm sao? Ai xô? Ai đánh?

“Anh ấy ra lỗ cửa, luân phiên hít thở. Phòng ngộp lắm. Tự nhiên bật ngửa, mê luôn. Chắc say không khí.”

Trước khi sập kín ngăn cửa, còn thấy vẻ mặt Hải ái ngại:

“Chắc không sao đâu. Chị đừng lo.”

Suốt buổi chiều, tôi ngồi với giỏ thăm. Xếp vào. Xếp ra. Nhìn. Rờ rịt. Anh còn mê man. Anh chưa nhìn thấy món ăn con thơ này. Dọn lên. Nước mắt các con. Dọn lên. Tim gan các con. Dọn lên. Nước mắt các con, nước mắt mẹ. Bình tĩnh, tin tưởng. Tập thở cho đều. Sao anh tập thở anh té, anh mê man? Đang đứng, bật ngửa. Có vấp vào mâm cơm con thơ không. Coi chừng. Đừng té. Ngồi cho thẳng. Thật thẳng. Anh rồi cũng sẽ ngồi thẳng vậy. Tôi nằm xuống lúc nào không hay. Lúc tỉnh dậy được sau cơn mê mệt, giỏ thăm nuôi đổ, mấy gói cá muối bị xé rách, tung tóe. Nơi lỗ cầu tiêu, lại nó, con chuột. Cặp mắt nhỏ như hai hạt đậu, tinh quái, thập thò.

Ngày mấy? Tháng mấy? Còn hỏi làm gì nữa.

Giữa khuya, hai chục con người trong mộ chôn sống được dựng dậy. Tiếng cười, ổ khóa, chộn rộn từ hành lang. Một cánh cửa mở.

“Mang theo đồ cá nhân.”

“Hùng Vinh Sơn từ biệt anh em đây.” Tiếng Hùng thình lình la lớn, vang dội cả khu biệt giam.

“Khẩn trương lên.”

“Từ từ. Thằng Hùng Vinh Sơn đã tới giờ từ biệt anh em.”

“Im.”

Tiếng huýt gió. Đó là điệu câu hát “Rằng xưa có gã từ quan…”

Quen thuộc. Mạnh mẽ. Huýt gió không đủ. Phải hát nữa:

Đêm đêm người mở lòng ra
Ôm ta trong cõi mơ hồ

Giã từ…

“Anh Hùng. Anh làm gì vậy. Ra ngay.”

“Xong. Anh em ơi. Vĩnh biệt. Chị Nhã Ca. Vĩnh biệt chị. Chị nhớ em nhé. Chị Nhã.”

Tiếng cửa sắt nghiến lại. Khỏe vì nước, kiến thiết quốc gia.. Tiếng hát Hùng xa dần, xa dần.

“Bắn à?”

“Bắn gì nửa đêm.”

“Ngu vừa vừa. Thủ tiêu mà. Im đi.”

Dương Con Rùa la lớn, giận dữ.

Im thật.

Đêm ép. Ép nữa.

Chị đừng sợ chuột, em hát cho chị nghe. Chị nhớ em nhé. Chị Nhã…Chị nhớ. Nhưng em đi mất rồi, chị không thấy mặt.

Cả Dương Con Rùa nữa, tôi cũng không thấy mặt. Đừng khóc. Chắc chẳng bao giờ tôi còn thấy mặt các em. Chẳng bao giờ tôi hiểu nổi tại sao các em phải cầm súng, phải đặt chất nổ, phải chết.

Không còn tiếng hát của Hùng nữa. Đâu phải. Vẫn còn. Vẫn lùng bùng trong tai. Tiếng nói, tiếng cười, giọng hát. Lên non tìm động hoa vàng…

No comments:

Post a Comment

NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ

  Huy Phương   Âm nhạc thường mang kỷ niệm của quá khứ. Âm nhạc không có phần hoài tưởng là những nốt nhạc vô hồn. Tôi xin...