Chu Kim Long
Tháng 5 năm 1968, theo lệnh Tổng động viên, tôi
và các bạn cùng trang lứa được gọi nhập ngũ khóa 3/68. Từ
Tiểu khu Gia Định chuyển lên Quân vụ Thị trấn, đường Lê Văn
Duyệt, Sài Gòn, chúng tôi được chiếc GMC chở lên Trung Tâm 3
Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Sau những thủ tục khám sức
khỏe... chích ngừa tại Trại chuyển tiếp Nguyễn Tri Phương vài
ba tuần, chúng tôi được lệnh di hành qua trại Võ Tánh – tại
đây, chúng tôi được gọi tên về các trung đội, đại đội và tiểu
đoàn khác nhau để thụ huấn giai đoạn một: Dự bị Sinh Viên Sĩ
quan, trước khi trở thành Tân Khóa Sinh và Sinh Viên Sĩ Quan của
trường Bộ Binh Thủ Đức. Và tại quân trường Thủ Đức, sau 8 tuần
huấn nhục, lễ gắn Alpha được tổ chức long trọng tại Vũ đình
trường, đánh dấu giai đoạn huấn luyện sĩ quan của khóa được
diễn tiến cho đến ngày tốt nghiệp.
Giai đoạn một tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung là thời gian
để làm quen và sống như một người lính, với chương trình huấn
luyện cũng như quyền lợi dành cho một tân binh. Từ đời sống dân
sự, đang sống phóng khoáng, đôi khi buông thả, đi vào một sinh
hoạt có kỷ cương, với “kỷ luật là sức mạnh của quân đội“ đã
khiến chúng tôi phải đổi thay cách sống cho thích hợp với
nhiều khó khăn và cực khổ lúc ban đầu. Nhưng, ngày qua ngày,
chúng tôi đã dày dạn sức chịu đựng và kiên nhẫn trong gian khổ
khi đã quen món “Cá mối làm chuẩn” mỗi ngày tại Nhà bàn,
nhất là sau những tuần đã qúa quen với sinh hoạt quân trường.
Từ trại Nguyễn Tri Phương chuyển về trại Võ Tánh, tôi được gọi
tên về đại đội 36 của Đại úy Nguyễn Hổ, tiểu đoàn Đinh Tiên
Hoàng. Với vẻ mặt khắc khổ, da xạm nắng, và giọng nói mạnh
nhưng ngắn gọn, khiến cả đội e ngại khi thấy ông trong những
lần đại đội tập họp của tuần lễ đầu tiên. Nhưng hai ba tuần
sau, cả đại đội đều mến ông khi thấy ông tận tình săn sóc và
trao đổi kinh nghiệm tác chiến cho các Dự bị sinh viên sĩ quan
như người anh đối với các em trong nhà. Tuy nhiên, nhiều anh em
trong đó có tôi, cảm thấy xao xuyến, lo nghĩ vu vơ, khi đại đội
tập hát bài Đường ra biên ải, một bài ca chính thức của đội,
trong đó có câu: Người đi không về, chắc rằng có người nhớ, hương khói chiêu hồn, hiu hắt những chiều trận vong... Dù
khi tập hát tại đại đội hay ca vang trong lúc di hành, lời của
ca khúc vẫn làm chúng tôi đôi khi có những cảm nhận mơ hồ về
những mất mát vô định. Nhưng, đó là một trong các bài đã được
tiểu đoàn chỉ định đại đội tập cho các khóa sinh hát bao
nhiêu năm qua. Nên đại đội vẫn hát thật lớn như một trong các ca
khúc quân hành trên đường đi tới các địa điểm huấn luyện,
hoặc bãi tập. Từ giã quân trường Quang Trung về trường Bộ Binh,
đồi Tăng Nhơn Phú KBC 4100, rồi ra đơn vị hòa đồng vào đời
sống quân ngũ, tôi không có dịp nào trở về thăm trường xưa chốn
cũ, để nghe các ca khúc quân hành quen thuộc trước đây.
Đã gần ba năm, sau ngày chuyển trại - từ Kà Tum Đồng Pan về
trại tù Cây Cày A. Tôi đã sống cùng một tổ với anh Hồ Thanh
Long - người tổ phó vẫn chơi bóng chuyền và chuyện trò với tôi
mỗi chiều trong trại tù Cây Cày A miền biên giới Việt Miên,
tỉnh Tây Ninh. Nhưng anh đã ra đi không hẹn ngày về trong lúc anh
dẫn bán tổ đi phát quang dọn rẫy, trong khi tôi theo tổ trưởng
Trần Văn Lợi đi trồng mì. Viên quản giáo bảo anh em khiêng xác
anh Long về tổ y tế để “Ban chỉ huy trại gọi điện về địa
phương thông bạo cho gia đình lên nhận xác”. Nhưng, giữa đêm khuya,
đội trưởng VHH đi qua tổ bảo tổ trưởng Trần Văn Lợi dẫn sáu
anh em lên gặp quản gíáo. Đến qúa khuya, tổ trưởng Lợi cũng
như mấy anh em về lại tổ thì cả tổ mới biết là các anh đi
đào huyệt cũng như lo việc “chung sự” cho anh Long. Và hơn một
tháng sau ngày anh Hồ Thanh Long qua đời thì gia đình anh từ
thành phố sương mù Đà Lạt lại lặn lội đến trại tù miền biên
giới để thăm nuôi anh. Nghe tin anh em trong tổ trực thăm nuôi bàn
tán về gia đình chị em anh Long đang khóc ngất ở khu thăm nuôi.
Tôi cảm thấy ngậm ngùi xót xa, thương nhớ Long Đỏ và tội
nghiệp cho gia đình anh – kìm nén xúc động, bất gíác, tôi nhớ
đến ca khúc Đường ra biên ải năm xưa trong quân trường rồi hát
thì thầm một mình trong góc bếp dưới giàn mướp, cách cái lán
ngủ của tổ một cái sân rộng. Bài hát này tôi đã thuộc nằm
lòng khi còn là khóa sinh Dự bị Sinh viên Sĩ quan khóa 3/68,
đại đội 36 tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng. Sau tháng tư năm 1975, trong
đời tù, tôi thường hát nho nhỏ như ru đời mình bên nồi khoai
mì và những búp măng rừng trên các trại tù miền biên giới:
Ra biên cương ra biên cương
Thiết tha lòng gái
Hôm nay nâng khăn hồng
Đưa chân anh hùng ngàn phương
Ra biên cương ! Ra biên cương !
Khói hôn hoàng xuống men rừng
Qua con sông khuất nẻo ngàn thương
Trăng non dị thường, ngựa tung vó bước
Hiu hiu, lá rơi lối mòn tuyết sương
Sao băng trên vòm, mong qua đêm buồn
Là ánh nắng đến, sáng soi tâm hồn
Người ngàn trùng
Quên niềm son phấn
Biên ải như đuốc thiêng
Ôi non nước tinh tuyền
Ôi tiếng hát câu nguyền
Đời gai chông
Xin thề lưu luyến
Biên ải xin hiến thân
Thấm thoắt đã bao lần
Bao người đi đền nợ máu xương....
Người đi không về
Chắc rằng có người nhớ
Hương khói chiêu hồn
Hiu hắt những chiều trận vong
Đời vui thái bình
Cũng vì bao đời lính
Tiếng hát công thành
Thương nhớ những người tòng chinh...
.................................................. ......
Người đi không về
Chắc rằng có người nhớ
Hương khói chiêu hồn
Hiu hắt những chiều trận vong...
Người đi không về
Chắc rằng có người nhớ
Hương khói chiêu hồn
Chắc rằng có người nhớ...
Từ ngày bộ đội chính qui Bắc Việt – đơn vị quản lý trại tù
Kà Tum chuyển giao chúng tôi cho trại tù Cây Cày A trực thuộc
Tỉnh đội Tây Ninh thì mức độ bóc lột sức lao động tàn tệ
những người tù đã gia tăng theo cấp số nhân. Nên sau khi đi lao
động về, để thư giãn tâm trí, quên thời gian và quên những điều
không đáng nhớ, mỗi buổi chiều tôi thường ra sân bóng chuyền
trước cửa nhà ăn C5D3 (đội 5 tiểu đoàn 3) đánh bóng chuyền với
Trần Văn Lợi, Hồ Thanh Long cho tới lúc mặt trời lặn hoặc tới
giờ họp tổ, họp đội. Và đôi khi cũng có nhiều người ra sân
chơi với chúng tôi như Quách Long tổ 3, Trân, Điệu, Vũ Trọng Ấn
tổ 2, hoặc các quản gíáo Tư Nhạc, Út Trọn và tay đập cừ khôi
Đoàn Thăng Long tổ 3 thuộc binh chủng nhảy dù.
Hồ Thanh Long người Đà Lạt, da trắng, nên khi cởi trần lao động
hay ra sân chơi bóng một lát, mặt và ngực Long đỏ rần lên,
khiến mọi người gọi anh là Long Đỏ. Một lý do khác mà anh em
gọi Hồ Thanh Long là Long Đỏ cũng là để phân biệt với anh Long
già cùng tổ và Quách Long cũng như Đoàn Thăng Long ở tổ 3. Với
bản tính hiền hòa, anh chỉ nhoẻn cười mỗi khi anh em gọi tên
anh là Long Đỏ.
Sau tuần lễ vác gỗ mà tổ cưa đã xẻ xong trong rừng về tổ
mộc. Tất cả tổ 4 chúng tôi được đội phân công đi làm cỏ, bón
phân Urê cho các khu khoai mì phía ngoài cổng chính của trại.
Ngày đầu tuần, quản giáo Út Chót không đi theo tổ, có lẽ
những dãy mì bên kia đường, trước cổng chính, gần trại, nên
chỉ có một anh vệ binh đi theo canh gác. Tổ trưởng Lợi và tổ
phó Long Đỏ yêu cầu anh em làm chỉ tiêu, xong sớm về sớm. Long
Đỏ có lẽ nhỏ hay lớn hơn tôi một hai tuổi, nên thường gọi đùa
tôi là chú – với nghĩa chú em. Vừa làm được khoảng ba mươi
phút, Long Đỏ tới chỗ tôi làm, nói nhỏ vừa đủ cho tôi nghe.
- Ráng cho xong chỉ tiêu, về sớm chơi volley nghe chú. Chú dám chấp tôi với Lợi không?
- Chơi liền, chỉ sợ hai người lấy rổ đựng không hết – tôi đáp.
- Chưa chắc nghe chú – Long Đỏ cười nheo mắt, rồi hỏi nhỏ tôi:
“Đố chú, từ cổng chính vào đến hội trường lớn có bao nhiêu
cổng và có những khẩu hiệu gì?”. Nói xong, Long Đỏ đi phụ làm
cỏ và rải phân tiếp tay với mấy anh đang bị cảm nhẹ, mệt mỏi
trong người, bỏ lại tôi với những suy nghĩ vu vơ trong lúc cào
các cọng cỏ, và bỏ phân Urê vào gốc cây khoai mì.
Sau khi tổ trưởng Lợi báo cáo đã đạt chỉ tiêu, người vệ binh
kêu tập họp điểm danh, sửa sọan về. Nhớ đến lời đố của Long
Đỏ, nên trên đường vào trại tôi ngẩng đầu lên đọc hàng chữ
viết ngang trên cổng chính: “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghiã Việt
Nam Muôn Năm”. Đi được khoảng 300 thước nữa thì tới một cái
cổng chào với hàng chữ “Đời Đời nhớ ơn Hồ Chủ Tịch”, rồi tổ
chúng tôi tiếp tục đi vào trại, tới đoạn đường bên phải có
Nhà Trực Ban với một cây tre ngáng ngang đường, và trên cái
cổng được dựng bởi bốn thân tre lớn – mỗi bên hai cây và hai cây
tre vắt ngang treo tấm bảng với hàng chữ to, đậm nét đỏ
chóii: “Chủ Nghiã Mác Lê Bách chiến Bách Thắng Muôn Năm”, và
trước khi tới hội trường lớn, tôi lại thấy một khẩu hiệu trên
một cái cổng tre được dựng sơ sài, một bên đã siêu vẹo, cái
gốc đã bị mục ruỗng, gần đổ: “Đảng Cộng Sản Việt Nam Muôn
Năm“. Tổng cộng, tôi đã đếm được bốn cái khẩu hiệu.
Từ khu trồng khoai mì, chúng tôi đã đi về tới trước mặt hội
trường lớn, nằm cách Ban Chỉ Huy và khu nhà quản giáo khỏang
hai trăm thước, và từ đây vào trong là ranh giới của tù nhân.
Dọc hai bên đường là các nhà ở của các tổ thuộc các đội tù
với những căn nhà biệt lập cho từng tổ, mái tranh, không có
cánh cửa trước cũng như cánh cửa sau để quản giáo có thể đi
vào đi ra kiểm soát dễ dàng trong đêm khuya cũng như ban ngày.
Anh vệ binh gác tù đã về nhà, tổ tù chúng tôi tiếp tục đi về
tổ 4, Long Đỏ bước tới đi song song bên tôi.
- Chú đếm được bao nhiêu cổng và khẩu hiệu ? – Long Đỏ hỏi.
- Bốn cổng, bốn khẩu hiệu – tôi đáp. Khẩu hiệu gì? – Long Đỏ hỏi tiếp.
- Muôn Năm – Đời Đời – Muôn Năm – Muôn Năm. Bốn tầng địa ngục,
muôn năm và đời đời, ngày về còn dài lắm nghe Long - tôi trả
lời.
- Chú giỏi, nếu không tính các cổng, thì tấm ảnh “bác Hồ“ ở cuối hội trường lớn có gì lạ? – Long Đỏ hỏi.
- Dễ ợt, có gì lạ đâu, “bác” khoác áo măngtô dài, một tay cầm
cuốn sách, một tay chỉ lên trời như ông thánh. Nếu “bác“ buông
sách nằm xuống như ở Ba Đình thì gia tài của “bác“ để lại
là hai mươi mốt ngón ngắn dài. Vậy nếu không muôn năm, đời đời,
thì tối đa là hai mươi, hai mốt – tôi nói, và cả hai cùng
nhếch mép cười khi vừa rẽ chân bước vào nhà tổ 4, nơi ăn ngủ
của hai thằng tù chúng tôi, những người nằm trong số tù nhân
được Thủ trưởng Năm Quân gọi là: “500 thằng tù lười, ca cóng
linh tinh hay phát ngôn bừa bãi, lúc nào cũng đối phó”.
Năm tháng dài vẫn tiếp tục đi trong đời người tù. Chúng tôi
vẫn âm thầm chịu đựng, không chống đối công khai để không bị
chết bởi những loạt đạn oan khiên. Nhưng để sống còn, anh em tù
luôn luôn ở trong trạng thái đối phó tiêu cực - tiêu cực trong
lao động và tiêu cực về nhận thức cái gọi là Xã Hội Chủ
Nghĩa. Những biểu hiện tiêu cực không rõ nét, âm thầm từng cá
nhân, bất bạo động để không bị đàn áp, bắn bỏ. Đối phó tiêu
cực là một hiện tượng không rõ nét trong đời sống người tù.
Cán bộ trại tù và các viên cán bộ trung ương đến trại cũng
nhận thấy và đã lớn tiếng phê phán và đe dọa anh em tù mỗi
ngày hay trong các giờ được gọi là “ lên lớp”.
Chiều mùa Hè, nắng Tây Ninh đốt cháy da người, tôi cùng mấy anh
em theo tổ trưởng Trần Văn Lợi đi trồng mì ở các rẫy ven
rừng, gần đường lộ đi lên hướng Kà Tum. Chúng tôi vừa về đến
tổ thì Bùi Quang Hùng và các anh em cùng nhóm đi với tổ phó
Long Đỏ để phát quang, dọn rẫy cũng vừa về tới – người tù
Bùi Quang Hùng là cháu gọi tôi bằng cậu, tôi và mẹ Hùng là
chị em con bá con dì, Hùng là Trung Úy ngành Quân Nhu, nhỏ hơn
tôi ba tuổi, nên chúng tôi rất bình đẳng trong sinh hoạt, thân
tình và tương kính. Không thẳng tính và năng động như tôi, Hùng
hiền hòa và nhẫn nại trước mọi khó khăn trong cuộc đời tù
đày. Để tìm quên những phiền muộn đem đến từ những ngày tháng
tù đày, thời giờ còn lại sau những ngày giờ lao động ngoài
rừng, Hùng thường tìm hiểu và nghiên cứu về thuốc Nam, học
chấm tử vi và xoa mạt chược. Theo phân công của đội, Hùng và
mấy anh em đi theo Tổ phó Long Đỏ phát quang, dọn rẫy một khu
vực mới, ven cánh rừng già tiếp giáp cuối trại tù, về hướng
con suối nước trong. Vừa thấy tôi về đến sân, Hùng đi tới, nói
nhỏ đủ cho tôi nghe: “Long Đỏ chết rồi, cậu ơi”.
- Ủa, sao vậy? Tôi ngạc nhiên hỏi.
- Long Đỏ đi giật lùi cắm tiêu cho anh em đi tới, bị té xuống
cái giếng hoang, còn cây cuốc của Long Đỏ gác trên miệng giếng,
cây cỏ rậm rạp, cao chừng bốn tấc, phủ lấp miệng giếng. Sau
khi vạch cỏ, đốt lửa hơ miệng giếng cho bớt thán khí và quản
giáo Út Chót kiếm được cây tre, anh em xuống kéo được Long chìm
dưới nước lên thì Long đã chết. Có lẽ khi té xuống, đầu đập
vào đá của thành giếng, bất tỉnh, rồi chết ngộp, chết đuối
dưới nước, tội nghiệp qúa - Hùng trả lời, cả hai cậu cháu im
lặng, ngậm ngùi trong tiếng thở dài.
Cái chết đến với Long Đỏ thật bất ngờ, cả tổ, cả đội ngẩn
ngơ, tiếc thương. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi và Hùng sống
bên nhau trong hầu hết các trại tù, hai cậu cháu đồng cam cộng
khổ bên nhau, đói no có nhau, cùng sống và sinh hoạt trong một
đội, ngọai trừ năm 1978, cả hai chúng tôi bị chuyển từ trại tù
Cây Cày A về trại tù Bàu Cỏ do Công an tỉnh Tây Ninh trông coi
thì có những tháng, tôi phải theo đội cơ động di chuyển sang
trại tù Cây Cày B để tăng cường nhân số lao động cho kịp thời
vụ cũng như kế hoạch của trại tù. Từ cuối năm 1978, tôi thường
bị đưa đi chuyển lại giữa hai trại tù Bàu Cỏ và Cây Cày B,
còn Bùi Quang Hùng vẫn ở lại trại tù Bàu Cỏ cho đến ngày
được thả về.
Bảy giờ chiều, Tổ trưởng Lợi họp tổ nói: Anh quản giáo nói,
trại đã báo về cho gia đình anh Long lên nhận xác về mai
táng... anh em yên tâm, mai chúng ta tiếp tục đi trồng mì....
Hơn mười một giờ đêm, Đội trưởng VHH sang bảo Tổ trưởng Lợi dẫn sáu anh em lên gặp quản giáo Út Chót.
Trời đã qúa khuya, chập chờn trong giấc ngủ khi tỉnh khi mê. Tôi
chợt tỉnh khi mấy anh em trở về lại tổ, tôi hỏi Tổ trưởng
Lợi: Có chuyện gì vậy?
- Đi đào huyệt, chôn Hồ Thanh Long – Lợi đáp.
- Sao chiều nói gia đình Long sẽ lên nhận xác về? – tôi hỏi Lợi.
- Nói dzậy nhưng không phải dzậy - Lợi nói giọng miền Nam và thở dài.
Tôi nói qua lại với Lợi như vậy thôi. Thực tế, suốt mấy năm đi
tù và cho đến hôm nay, tôi không thấy những người Cộng Sản nói
thật bao giờ. Trong gần sáu năm tù, tôi đã thấy những người tù
chết trong bàn tay những người Cộng Sản: Anh Ngô Nghĩa – trốn
trại, bị xử bắn tại Trảng Lớn, anh Hiểu – người tù vén hàng
rào chui qua thăm bạn mới có gia đình thăm nuôi, bị bắn chết khi
giơ tay đầu hàng ở Kà Tum. Và cũng ở trại tù Kà Tum, cùng
tổ cùng đội với tôi – anh Trần Duy Hóa đi lợp nhà cho Trung
đoàn, nhà bị sập, đè chết. Còn ở trại tù Cây Cày A, anh Mai
Duy Hạnh thuộc đội 1, bị Hai Tý - đội trưởng đội cán bộ khung
bắn chết khi làm rẫy cho đại đội Khung của trại Cây Cày A. Và
chỉ cách nhau vài tuần, anh Hồ Thanh Long cùng tổ với tôi té
xuống giếng hoang trong bìa rừng khi đi phát quang, dọn rẫy. Khi
cái chết đến với các người tù, các cán bộ Việt Cộng đều
nói như con vẹt: “đã thông báo cho gia đình lên nhận xác...”.
Nhưng rồi, trong đêm khuya, quản giáo đã ra lệnh cho các người
tù trong tổ đi đào huyệt, chôn người tù đã chết oan khiên một
cách vội vã, sơ sài, trong các nấm mộ hoang vu ven rừng. Rồi
những tháng sau đó: Gia đình người tù, vai mang nặng trĩu thuốc
men, đồ ăn, lên thăm nuôi con, thăm nuôi chồng, thăm nuôi anh, thăm
nuôi em – khi đó mới biết người thân mình đã chết từ lâu rồi
mà không hề được báo tin. Người Cộng Sản nói dối không ngượng
miệng bao giờ. Hình như người Cộng Sản Việt Nam không có sợi
dây thần kinh liêm sỉ!
Tổ phó Long Đỏ ra đi khiến tôi cảm thấy vừa mất một người
đồng hành dễ mến trên con đường lữ thứ đầy chông gai. Mới ngày
nào đây, anh hỏi tôi về mấy cái cổng, cái biểu ngữ với những
câu và chữ vọng ngôn, tuyên truyền một cách khoa trương: đời
đời, muôn năm… muôn năm... Anh ra đi đột ngột qúa, làm cả tổ, cả
đội ngẩn ngơ khi phải chứng kiến những mất mát xảy ra thật
bất thường trong đời người tù. Như để an ủi chính mình, tôi
thầm nghĩ: Thôi cũng xong một đời người khi lực bất tòng tâm –
đành phó thác. Nghĩ vậy, nhưng từ đó đến nay, khi nhớ tới, tôi
vẫn cảm thấy xót xa trước cảnh người cùng một giòng máu,
cùng một tổ tiên lại đang tâm hành hạ, giết hại người anh em
khác chính kiến với mình, khiến tôi nhớ đến bài học thuộc
lòng từ thời tôi còn học lớp nhất (lớp 5) nói về thời Trịnh
Nguyễn phân tranh không khác gì với thời Cộng sản hiện nay.
Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ trời Nam
Đây dòng sông dòng máu Việt còn loang
Đây cố đô xương tàn xưa chất đống
Sông còn đây hận phân ly nòi giống
Máu còn đây cơn ác mộng tương tàn
Và còn đây hồn dân Việt thác oan
Bao thế kỷ chưa tan niềm uất hận
Ôi! Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn
Muôn nghìn sau để hận cho dòng sông
Mộng bá vương Trịnh Nguyễn có còn không
Nhục nội chiến non sông còn in vết
Đây sông Gianh nơi nồi da xáo thịt
Nơi gươm Hồng tàn giết giống Lạc Hồng
Nơi máu hồng nhuộm đỏ sóng dòng sông
Máu nhơ bẩn muôn đời không rửa sạch
Phân tranh đớn đau từ thời phong kiếnTrịnh Nguyễn đã đi vào
lịch sử. Nhưng người Cộng sản Việt Nam đã không học được bài
học lịch sử. Nên lại nhẫn tâm cùng với thực dân Pháp chia cắt
đất mẹ Việt Nam một lần nữa bằng giòng sông Bến Hải, nuôi
mộng và chủ trương thống trị qua chủ nghĩa ngoại lai bằng cách
phát động chiến tranh qua chính xương máu anh em một nhà, một
mẹ Việt Nam, đẩy đưa người dân vào thế phải tự vệ để sống
còn trước một chủ nghĩa duy vật, không tưởng, đầy máu và nước
mắt của người dân vô tội. Và cho đến hôm nay, mộng bá vương đã
đưa biển đảo và đất liền của dân tộc vào tay tên bá quyền
Đại Hán cùng biết bao xương máu đồng bào trên khắp ba miền
Trung Nam Bắc với một nền độc lập trá hình. Có nỗi nhục nào
lớn hơn nỗi nhục quốc phá gia vong!!!
Cho đến hôm nay, mỗi khi nghe được lời ca của bản nhạc Ra biên
cương từ một chương trình nhạc trên hệ thống truyền thanh, hay
truyền hình, tôi lại nhớ tới anh em và các sĩ quan cán bộ đại
đội 36 khoá 3/68, tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng, Trại Võ Tánh
thuộc Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ngày xa xưa, nhớ đến những
cái chết tức tưởi, oan khiên của đồng bào trong suốt chiều
dài của cuộc chiến do Cộng sản phát động và nuôi dưỡng, cũng
như nhớ tới anh Ngô Nghĩa, anh Trần Duy Hóa, anh Hiểu, anh Mai Duy
Hạnh, anh Hồ Thanh Long và những người bạn đã và đang sống
cùng khổ trong các trại tù trên khắp ba miền đất nước hiện
nay. Dù nhạc và lời bản nhạc đã chấm dứt, mà trong tâm tưởng
người nghe vẫn cảm thấy xót sa và trong ký ức lại phảng phất
hình ảnh biết bao nhiêu người đã ra đi không trở về, trong đó
có anh Long Đỏ của tổ 4 chúng tôi – những người đã ra đi không
về, ngay cả khi cuộc chiến đã tàn.
NGƯỜI ĐI KHÔNG VỀ
Subscribe to:
Comments (Atom)
NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ
Huy Phương Âm nhạc thường mang kỷ niệm của quá khứ. Âm nhạc không có phần hoài tưởng là những nốt nhạc vô hồn. Tôi xin...
-
THÔNG BÁO Kính g ởi : - Qu ý Ni ên Tr ư ởng - Qu ý Huynh Tr ư ởng ...
-
từ Fbr: Lê Xuân Nghĩa: Vì sao con người ta ngu lâu ? HAI MẶT CỦA MỘT VẤN ĐỀ Tôi vẫn không hiểu nổi một bộ phận lớn người Việt Nam họ nhân ...
-
Trưa 30/4/1975. Cởi áo trận, ...
No comments:
Post a Comment