CTNCT. Trần Văn Chính
Kính tặng Đại Đức N.và Linh Mục Khổng Năng B.
Lần tôi gặp Thầy đầu tiên là cuối tháng 12, 1976 trên chiếc tàu Hồng Hà chở tù nhân lưu đày ra xứ Bắc. chúng tôi chen chúc nhau một chỗ ngồi như những con gà thịt dồn vào bội gánh ra chợ bán, mặc tình dãy dụa, oan oác kêu thương. Đã vậy, chiếc tàu này chỉ xử dụng chở than từ Hải Phòng vào cảng Sài Gòn, cho nên
chẳng mấy chốc chúng tôi nhìn nhau, ai nấy đều trở thành mọi Phi Châu,
đen thủi đen thui ráo trọi. Và những mùi than ẩm mốc, phân, nước tiểu,
mồ hôi.... xông lên nồng nặc cùng với cái chỗ ngồi cứ càng lúc càng thu
hẹp lại, dồn ép nhau, khiến không còn ai có thể chịu đựng nổi nữa. Mà
thằng Việt Cộng bố láo, sợ chúng tôi liều mạng, làm loạn cướp tàu cho
nên chúng nhử, khi thì gọi phát vài gói mì, khi trái cam, nước uống, để
chúng tôi, những kẻ đói khát từ lâu, nay thấy có thức ăn, vồ vập chia
chác lu bu nhằm quên đi cái tương lai mờ mịt sắp tới.
Ngồi bên cạnh Thầy, thỉnh thoảng chân tay tê dại, tôi duổi
mạnh ra là đụng phải hai bên liền. Cứ mỗi lần như vậy, người bên phải
của tôi phùng mang trợn má, chửi rủa um sùm mặc dầu tôi xin lỗi luôn
miệng. Riêng Thầy thì không. Nhiều khi đau quá, một thoáng nào trên mặt
khẻ cao lại, rồi bình thường, chịu đựng cảm thông. Trước đó khi chưa
quen, tôi đoán người này là tu sĩ vì tư cách khác thường, và quả thật,
sau khi hỏi han tâm sự, Thầy cho tôi biết Thầy là một nhà Sư, bị kết tội
CIA vì chứa chấp con lai tại Chùa. Những đứa con lai này gồm nhiều quốc
tịch như Kampuchia, Đại Hàn, Mỹ Trắng, Mỹ Đen ..v...v... mà mẹ chúng
nuôi không nổi, nhờ Thầy lo giùm.
Thầy ăn uống thật ít không có nhu cầu gì nhiều khả vỉ làm
phiền người khác như đi tiêu, tiểu chẳng hạn. mà tiêu tiểu ở đây là một
vấn đề lớn, phải bước qua đầu cổ, đạp lên chân tay, lên bụng của những
người bạn tù phía trước để tiến lên chỗ đặt cái thùng . Vì số tù quá
đông, cho nên cái thùng luôn luôn đầy ứ, và được thường xuyên kéo lên
boong tàu để đổ ra ngoài. Cứ mỗi lần thùng kéo lên thì nước tiểu, phân
văng tung tóe và những người phía dưới lại kêu la, càu nhàu. Những tiếng
kêu la, cấp cứu dần dần vang dội nhưng nắp hầm tàu đóng kín, còn có ai
nghe !
Rồi chúng tôi cũng đến cảng Hải Phòng vào buổi sáng sớm, gần
ba ngàn tù nhân, từng cặp còng vào nhau, theo những giây xanh, đỏ, tím,
vàng, mỗi màu đi về một hướng thật xa xăm thuộc các Tỉnh địa đầu giới
tuyến Bắc Việt, nơi đó có những thung lũng thật hẹp và những vùng rừng
núi hoang dại bao la đang đón chờ chúng tôi.
Đường đến Hoàng Liên Sơn xe chạy ngày đêm không nghỉ. Cứ
mỗi lần xe dừng lại tại một nơi nào đó thì y như rằng có một tốp người
địa phương gậy gộc chờ sẵn, chửi rủa chúng tôi thậm tệ, gạch đá ném lên
như mưa, trận mưa gạch đá đầu tiên làm Thầy bị thương nặng nơi đầu, máu
chảy chan hòa trên mặt nhưng chúng tôi chỉ ngồi lặng nhì, đau xót vì có
lệnh cấm của bọn vệ binh áp tải.
Nhưng người đau lòng hơn chúng tôi chắc là vị Linh mục
già, có tật nơi chân, bị còng chung tay với Thầy, đồng thời tay còn lại
cũng bị cột vào thành xe vì đã vi phạm nội quy trong khi di chuyển: tiếp
tế ổ bánh mì cho người bạn tù kiệt sức. Tôi biết Cha vì Cha đã bị bắt
và đưa vào trại tập trung cùng ngày với tôi tại Chủng viện Cái Răng, Cần
Thơ, nhưng không cùng tội danh. Tội của tôi thuộc ngụy quân ngụy quyền,
còn tội của Cha thuộc phản cách mạng, oa trữ Thánh Kinh truyền đạo.
Trông Cha đôi mắt rưng rưng, muốn nói điều gì, nhưng họng súng đen ngòm
cứ chĩa thẳng vào Cha từ phía trước. Một Cha, một Sư, một giây khổ ải
ràng buộc nhau, thật hơn tình ruột thịt đậm đà, yêu thương, đoàn kết,
cảm thông hơn lúc nào hết. Bởi sao, thời mạt vận. Tiên, Phật, Thánh,
Thần đều nhắm mắt trước quỷ vương gây điêu đứng, khổ sở cho người trên
trần thế, nói riêng ở Việt Nam, là những Xã (ủy) quỷ, Phường quỷ,Huyện
quỷ, Tỉnh quỷ, Thành quỷ, Trung ương đảng quỷ ..v.v... một hỏa ngục có
đủ tất cả. Sau bốn giờ di chuyển, xe ngừng lại, Thầy được băng bó qua
loa, rồi tiếp tục chạy suốt chuyến hành trình.
Những tháng ngày đầu tiên ở trại Lào Kay, Hoàng Liên
Sơn, tôi và Thầy được phân công vào đội xây dựng, xây thêm nhà tù, xây
cho kiên cố và chắc chắn hơn. Còn Cha thì làm ở đội rau xanh, sản xuất
hoa màu.
Đội xây dựng thuộc loại nặng nhọc, vất vả, suốt ngày
quần quật với đá, gạch, cát, vôi, không kiếm chác cải thiện được gì mà
còn rất nguy hiểm, tai nạn xảy ra liên miên. tháng trước, mấy người tù
chỏng gọng vì mìn phá nổ bất ngờ, đem chôn sau núi. Tuần vừa qua, hai
người từ giàn cao té xuống như mít rụng chết tại chỗ. Mới vừa hôm qua,
một anh đẩy xe cải tiến lật, gãy chân. Tất cả những trường hợp ấy, Ban
giám thị trại giam đều quy tội cho kẻ chết, người sống bất cẩn, có "ý
đồ" trốn tránh lao động, không hoàn thành nhiệm vụ cải tạo.
Đối với kẻ chết, chưa hoàn thành việc cải tạo cho
nên thân nhân không được quyền viếng thăm, cải táng, còn người sống thì
bị trừ điểm lao động, giảm khẩu phần, chế độ nuôi ăn.
Tuy nhiên vù có đói, có nặng nhọc, chúng tôi cũng
còn đỡ chịu cảnh nhớp nhúa hơn đội rau xanh, ngày ngày phải sống với
phân người, nước tiểu, tay chân lở lói thường xuyên. Nghe nói những
luống rau muống của Cha chăm bón, không biết vì tuổi già sức yếu hay vì
không tích cực với cái vụ "phân phiếc" kia, cho nên những cọng rau mọc
lên ốm nhom như những cọng chỉ, dài ngoằn ngoèo, vươn những cánh tay bé
tí bò lang thang phá phách mấy luống rau bên cạnh.
Còn Thầy hay bị "máu xâm", muốn té lúc nào tự
do té, có khi đang trộn hồ, Thầy chúi vào đồng hồ, có khi xuống hầm lấy
vôi, Thầy ngâm mình thẳng cẳng ở đó luôn.
Vậy mà hai ông đại diện Chúa và Phật ấy, luôn
bị theo dõi rất gắt, nhất cử nhất động từng lời nói đều thấu đến tai
bọn Việt Cộng. Chúng biết rằng chúng tôi rất quý mến hai ông, xem như là
nơi nương tựa tinh thần và là niềm an ủi cho những kẻ mồ côi, không cha
không mẹ như lúc này đây.
Việc gì phải đến đã đến. Một sáng thứ bảy,
chúng tôi phải tập hợp lại để nghe lệnh phạt Thầy, lý do có lời xúc phạm
đến Bác. Nguyên do là trong lao khi lao động tại hiện trường, Thầy luôn
lớn tiếng dùng những từ ngụ ý châm biếm, nói xấu vị lãnh tụ nước Cộng
Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam như là đánh hồ (danh từ miền Nam) thay vì
đánh vữa, trộn Hồ, Hồ ...mà Thầy lại là người miền Trung. Vì lần đầu vi
phạm, Thầy chỉ bị bốn ngày đi "tàu bay" nghĩa là những trại không lao
động, Thầy phải đi xúc phân và lấy nước tiểu tại các hầm cầu.
Mùa Giáng Sinh đầu tiên tù đầy trên đất Bắc
năm 1977 sắp đến, những người Công Giáo chúng tôi nhắc nhở nhau chuẩn
bị mừng Chúa ra đời. Mỗi người cố gắng dành dụm từng muỗng muối, viên
kẹo, từng hạt đậu điếu thuốc để trong đêm cùng họp nhau lại tưởng nhớ
Chúa Hài Đồng. Chúng tôi cũng xin Cha, trước ngày ấy giải tội cho chúng
tôi, hầu chúng tôi dọn mình rước Chúa, dù cách thiêng liêng, được đàng
hoàng trang trọng hơn.
Nguồn tin thật kín đáo như vậy mà vẫn bị tiết
lộ. Lập tức Ban Giám Thị trại giam khẩn cấp thông báo lệnh cấm tụ tập,
cầu kinh trong đêm Giáng Sinh. Mỗi sáng đi lao động , mỗi tối trước khi
ngủ, lệnh đều được nhắc lại, đồng thời tổ chức các cuộc khám xét bất
thường và tịch thu bất cứ vật gì tình nghi là sẽ dùng cuộc lễ, như nhà
thơ Nguyễn Chí Thiện diễn tả trong bài "Chúng tôi muốn sống" sau đây:
Có những buổi mưa rơi tầm tả
Vác áo quần ra đứng ngoài sân
Lủ Công An lục soát áo quần
Thu, đốt cả vật tối cần, miếng giẻ
Cụ Mác ơi, cụ là đồ chó đẻ
Thiên đường cụ hứa thế kia a ?
Có những người đau ốm cũng không tha
Cứ bắt đứng dầm mưa cho ướt sũng !
Như đã hẹn, vào trưa Chúa nhật trước lễ Giáng
Sinh, may quá, toàn trại không phải đi lao động hay làm bù. Chúng tôi
chia nhau lãng vãng trước sân đội mỗi người xét mình rồi ăn năn tội cách
riêng. Thời gian chờ đợi trôi qua từng giây từng phút chậm chạp đến sốt
ruột. Và , bây giờ, Cha đang xuất hiện trên thành giếng trước chúng
tôi. Nhìn Cha lúc ấy thật uy nghi, khác với những hôm Cha đi lao động
trông thật bèo nhèo, tả tơi. Cha đứng thẳng người, mặt ngước lên trời
như đang ngắm mây bay, giây lát Cha cúi đầu xuống đưa tay làm phép giải
tội tập thể.
Đột nhiên trong tôi niềm cảm xúc mãnh liệt
dâng lên rào rạt. Những tội phạm, những lầm lỗi với Chúa, với người,
chất chứa từ lâu, nay trào lên khóe mắt, tuôn chảy ràn rụa. Tôi nhìn qua
nhìn lại, hầu như ai ai cũng như tôi, dù cố ném nhưng đôi mắt họ cũng
đỏ hoe. Bóng Cha đã khuất sau hàng kẽm gai từ lâu mà chúng tôi vẫn còn
đứng bần thần ngơ ngác.
Dù biết có lệnh cấm, chúng tôi tiếp tục
chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh với bất cứ giá nào, nhưng thật là vô ích,
đành phải mạnh ai nấy lo phần mình.
Đêm Giáng Sinh đã đến, sau khi điểm danh
chiều và cửa buồng đã khóa lại, chúng tôi không ngồi tán gẫu như mọi
hôm. Tất cả về chỗ nằm, ôn lại kỷ niệm của những đêm Giáng Sinh khi còn ở
ngoài đời, rồi sau đó cầu nguyện, đọc kinh thầm trong niềm u uất và cứ
tưởng rằng nó sẽ đi qua bình thảm như thường.
Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm.
Chúng tôi nhớ và tưởng tượng những dòng
chữ như trên đang chiếu lấp lánh tại các nhà thờ khắp cùng quả địa cầu,
tiếng đồng ca ngút ngàn, lộng gió cùng với hàng triệu gương mặt vui
tươi, hớn hở thì bổng thình lình phía trước cửa xuất hiện lố nhố đám vệ
binh, có mặt cả Giám thị. Cửa mở trong tiếng quát tháo buộc chúng tôi
đứng nghiêm tại chỗ, thì Thầy và hai ba người nữa bị mấy bá súng đập vào
ngực, vào lưng và bị trói dẫn đi với lý do vi phạm lệnh cấm, tổ chức tụ
tập mừng lễ. Thật là oan ơi, ông địa. Chẳng là Thầy mới nhận được gói
quà nhỏ từ Sài Gòn gởi ra, Thầy nấu trà ít kẹo bánh đãi mấy anh em trong
đội theo thông lệ, nhưng đêm nay, không ngờ Việt Cộng đối với bất cứ
tôn giáo nào, dao Phát, dao Cong, dao Cao đài.... dao nào cũng đều là
dao cả "(Diễn văn của một ủy viên Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam đọc,
bài đánh máy không bỏ dấu)" cũng cần phải tiêu diệt. Hay là trong lòng
Thầy đã có chủ đích nhằm thử thách sự ngu muội, dốt nát của bọn cường
quyền ?.
Nhìn cảnh Thầy bị đánh đập, kéo lôi, chúng
tôi vừa buồn, vừa thẹn, buồn là vì bị bè lũ vô thần đang trên đà thắng
thế, mặc tình đàn áp, chế ngự tất cả các tôn giáo đối nghịch lại chủ
trương và quyền lợi của chúng. Thẹn là vì, đúng vào giờ con Thiên Chúa
ra đời thì con Phật ra tay chịu nạn mà lẽ ra chúng tôi phải can đảm gánh
vác.
Thiên Chúa Giáng Sinh, thế giới hoạn lạc, tiệc
tùng, ai có nhớ đến số phận hẩm hiu của những tù nhân trong những trại
tù xa xôi, hẻo lánh, thêm một lần nữa, khốn khổ vì bị cắt giảm phần ăn
mà phải chịu đựng với gió mùa Đông Bắc tràn về. Cái đói và rét thi nhau
hành hạ những hình hài còm cõi, tàn tạ với ước mơ duy nhất là được một
bữa no lòng trong suốt một đời tù tội triền miên.
Phần Thầy như vậy nhưng Cha nào có yên.
Nửa tháng sau, chúng tôi bị tập họp nghe quyết định kỷ luật Cha vì có
những hoạt động lén lút truyền đạo, rửa tội, ẩn dấu Thánh Kinh... đồng
thời chuyển Cha đến trại tù Hà Giang, còn gọi là "cổng trời" nơi giam
giữ tù nhân tàn khốc, độc đáo hơn các trại tù nổi danh như Đầm Đùm, Lý
bá Sơ....
Trại được thiết lập trên lưng chừng núi
cao, chớn chở, quanh năm mây bao bọc , chỉ có con đường độc đạo duy nhất
nối liền bên trên và xã hội loài người phía dưới, từ xa đứng nhìn,
trông y hệt như cổng trời. Ở đó, nếu kỷ luật, tù nhân bị giam vào những
hốc đá, không áo quần, không chăn chiếu, lúc nhúc bầy ong trong tổ ong
vĩ đại nhưng đôi cánh bị cắt cụt, nên không thể và không còn ước mơ
khoảnh trời xa đầy cỏ lạ hoa thơm. Ở nơi đó cần chi phải tra tấn, đánh
đập nữa, chỉ cái lạnh thiên nhiên toác ra cũng đủ làm xói mòn xương
thịt, khiến con người không còn chút sức đề kháng nào cả về thể xác lẫn
tinh thần.
Từ đó chúng tôi không được thêm tin tức
gì về Cha, phần thì chuyển trại liên miên, phần khác là sau nầy các Cha
bị cô lập, quản chế gắt gao, sống tách rời với chúng tôi cho nên không
thể liên lạc để biết được. Thầy thì vẫn cùng chúng tôi qua thêm nhiều
chặng đàng chong gai, thập ác, từ các trại giam thuộc Bắc Cạn, Thái
Nguyên, Hà Nam Ninh.... cuối cùng là Z30 Hàm Tân, Thuận Hải.
Một hôn Thầy được gọi ra nhà Hạnh
Phúc (còn gọi là nhà thăm nuôi) mà người đứng đơn xưng là vợ chính thức.
Chúng tôi rất ngạc nhiên, Thầy thì mặt mày nhăn nhó rất khổ sở. Tại nhà
Hạnh Phúc, Thầy gặp vị Ni Cô, trong bộ thường phục, dẫn theo một đám
trẻ con, vàng, đen, trắng, đủ màu da, ùa đến nắm tay kéo áo, quấn quít
kêu cha trìu mến. Hỏi ra mới biết là do người mách bảo, muốn thầy được
tha về sớm thì Ni Cô phải làm hôn thú với Thầy mới có thể bảo lãnh Thầy
về sum họp, đoàn tụ với gia đình.
Nếu Cha còn sống chẳng biết có Dì
Phước nào ra tay tế độ, lo làm hôn thú bảo lãnh Cha không ? Và những
trường hợp như vậy, nếu có xảy ra trong chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam "Đập lột tự do hợp pháp" thì xin quý vị chớ vội phê bình mà
hãy cảm thông cho những đôi vợ chồng hờ, bất đắc dĩ kia buộc phải đóng
trọn vai trò "ngụy" trong bản trường ca "gan dối".
Giữa năm 1984 tôi được trả tự do,
Thầy vẫn còn ở lại và chính Thầy đã thay Cha cần tay thân chúc chúng tôi
thượng lộ bình an.
Đêm Giáng Sinh hôm nay, trong sự ấm cúng của gia đình, bổng hồi tưởng
lại, lòng tôi sao quặn đau, chạnh nhớ:
Những người muôn năm củ,
Hồn ở đâu bây giờ ?.
CTNCT. Trần Văn Chính.
No comments:
Post a Comment