Đầu xuân là những ngày dọn dẹp nhà cửa, như người Mỹ thường nói, “Spring cleaning.” Tôi hò hét hai ông con phụ dọn phòng của… tụi nó. Một đống quần áo dơ kế bên một đống quần áo sạch. Cái futon đầy dây nhợ từ mấy cái laptop và game. Một mớ hùm bà lằng các thứ dụng cụ để tụi nó chơi chế đủ thứ. Nhìn cái phòng của tụi nó mà tôi muốn xỉu. Tôi đe, “Hai đứa mà không dọn phòng cho ngăn nắp, mẹ hốt đổ thùng rác hết.” Hai ông con tuổi niên thiếu của tôi vội vàng thu thu góp góp. Tôi quay lưng ra dọn phòng khách.
Được một lúc, cậu lớn của tôi đi ra phòng đưa cho tôi một bao giấy.
“Cái này trông giống cái võng phải không mẹ?” Tôi lôi ra từ cái bọc
giấy. “Ồ! Phải rồi! Cái võng này ông bà ngoại đem từ Việt Nam sang
đó. Nó nhiều tuổi hơn cậu Út nữa đó.” Thằng con hả miệng trợn mắt, “Thật
à?” Tôi gật đầu và bồi hồi lại nhớ những ngày xưa. Bao nhiêu lần tôi tự
nhủ, “quên đi những ngày sau 75 để sống cho khoẻ.” Vậy mà vẫn không quên
được. Khổ cực, nghèo đói, khó khăn. Chẳng vui sướng gì nhưng cứ nhớ và
lại kể cho hai thằng con hợp chủng quốc nghe.
Sau năm 1975, vì để tránh tiếng “nguỵ quyền giàu có” và cũng để lấy
tiền sinh sống, mẹ tôi phải bán đi những món đồ trong phòng khách trước
hết. Mới đầu là chiếc xe honda hai bánh của ba, rồi bộ bàn ghế salon,
cái tủ đứng có cái gương soi, cái radio, cái máy hát… Từng thứ một lần
lượt ra đi. Phòng khách nhà tôi trở nên trống trơn, ngoại trừ bộ ván mít
của ông nội đem từ Tây Lộc xuống, nên mẹ không dám bán. Cái phòng trống
hoang nên mỗi khi nói lớn thì nghe tiếng của mình vọng lại.
Bán hết đồ đạc trong phòng khách, mẹ bán đồ đạc phòng bên hông nhà.
Tôi tiếc nhất là cái giường nệm nhỏ vì tôi và cô em kế không còn được
leo lên giường nhún nhảy để vồng nảy người lên xuống. Mẹ bán luôn mấy
tấm ván làm sàn của căn gác lửng, nơi tôi ước làm cái phòng của riêng
mình. Cái phòng trông thật xấu xí khi chỉ còn những thanh xà ngang lộ ra
một khoảng tối thăm thẳm. Có lẽ mẹ thấy cái tiếc nuối trong mắt tôi nên
mẹ thì thầm nói, “Khi nào ba về thì ba sẽ làm lại.” Trông mãi chẳng thấy
ba về mà cứ thấy đồ đạc trong nhà vơi dần. Hồi đó tôi còn nhỏ lắm nhưng
cảm thấy buồn mỗi khi người ta vào nhà khiêng đi những món đồ mẹ bán.
Cũng may là con nít dễ quên nên tôi quen dần với cảnh ấy. Vậy mà đến bây
giờ những cảm giác buồn tiếc ngày ấy lại trở về, lại cảm thấy cay cay
nơi sống mũi.
Nhưng mà mẹ không bán cái võng dù. Đó là cái võng đan bằng những sợi
dây từ những cái dù, máy bay thả đồ tiếp tế xuống vùng núi Tiên Phước
nơi ba tôi làm việc. Ba tôi kể rằng người dân vùng đó lấy những cái dù
chế ra những vật dụng trong nhà. Vải dù để may áo hoặc để vắt bột từ
khoai sắn, khoai chóc. Dây dù thì có nhiều công dụng nhất. Nào là làm
dây phơi áo quần, làm bẫy chồn, cheo, chim… Và độc đáo nhất là đan những
sợi dây dù thành những cái võng giăng dưới những vòm cây cao hay chái hè
mà hầu như quanh nhà nào ở Tiên Phước cũng có. Một người nào đó đã tặng
cho ba tôi một cái võng dù như vậy vào khoảng năm 1972. Cái võng đã ru
tất cả chị em tôi, nhất là cậu em út, vào những giấc ngủ trưa ngủ tối
thời thơ bé nhọc nhằn, tủi hổ.
Đó là những năm sau 1975, khi ba tôi đi tù cải tạo và mẹ tôi không
còn được đi dạy vì là vợ nguỵ quyền. Mẹ phải dậy sớm đi về chợ quê mua
nông phẩm về bán ở chợ gần nhà tôi. Mỗi sáng mẹ thức dậy từ 4 giờ sáng,
mẹ nhè nhẹ ra khỏi giường để cậu em út tôi mới hơn một tuổi đừng thức
giấc. Mẹ lay chị tôi, 11 tuổi, dậy cài cửa khi mẹ đi khỏi nhà. Có những
hôm cậu em tôi thức giấc đòi theo mẹ, chị tôi để em vào võng, rồi chị
mắt nhắm, mắt mở lắc đưa dỗ em ngủ lại.Ban ngày, mỗi khi cậu em khóc mà
phải làm việc nhà, chị bày tôi và cô em kế đưa võng dỗ em. Chị không dám
cho chúng tôi bồng em vì đứa nào cũng ốm nheo. Chị sợ tụi tôi thả em rớt
đất vì bồng em không nổi. Chị cũng sợ tụi tôi làm văng em khỏi võng nên
lấy một que củi găng cái mép võng cho thành võng được cao và rộng hơn để
giữ em nằm yên trong đó. Cậu em khóc càng to, tụi tôi đưa võng càng
mạnh. Không biết vì sợ hay thích nhưng cậu em nín khóc ngay.
Đôi khi tôi cũng nằm trên võng với cậu em để ru nó ngủ. Hai chị em
nằm hai đầu. Cái võng cao và tôi nhỏ xíu nên không chống chân tới đất
như mẹ, như chị để đưa em. Mẹ cột một sợi dây vào khung cửa sổ gần đó và
tôi nắm đầu dây kia kéo. Cái võng lắc lư ru hai chị em tôi ngủ. Khi cậu
em tôi thức giấc thì chị em chúng tôi chơi đu với cái võng. Chúng tôi
từng đứa một thay phiên nhau ngồi võng, quay mặt vào tường, chân nhón
lên rồi kéo cái võng ra xa và nhanh nhẹn ngồi xuống. Cái võng đưa đến
gần tường thì đạp mạnh đẩy nó ra xa. Cái võng rộng trùm kín cả người nên
không sợ rớt. Đẩy càng mạnh thì võng đưa càng xa. Nhiều lúc tôi tưởng
mình được bay trên không, rất thích! Chúng tôi hò hét vang cả nhà.
Cô em gái tôi còn nghĩ ra một màn xiếc với cái võng. Đẩy người
cho võng chao và nhanh chóng lộn úp mặt xuống đất nhưng người vẫn ở trên
võng với tay chân chống vào mép võng. Tôi vẫn còn nhớ cái
cảm giác hồi hộp sợ bị rớt đập mặt xuống sàn nhà bằng xi măng nhưng rất
thích thú khi lộn thành công trong cái võng. Rồi thêm trò đu bay. Tụi
tôi thay phiên nhau ngồi trong võng, lấy sợi dây luồn mép võng lại với
nhau làm thành một cái lưới kín. Đứa ở ngoài đưa thật mạnh cho cái võng
bay gần như lộn một vòng. Cứ giống như là người đi chơi roller coaster ở
Disneyland hay là Magic Mountain bây giờ vậy. Cái võng dù đã đem niềm
vui đến cho tuổi thơ của chị em tôi.
Năm 1977, trên quê của ba mẹ tôi đã có trường học. Những cô giáo, là
bà con của hai bên gia đình ba mẹ thường đến ở trọ nhà tôi để đi học bồi
dưỡng chính trị vào những tháng hè. Họ không đi một mình mà còn
đem theo con lớn để giữ con nhỏ lúc họ đi học. Chị em chúng tôi vui lắm
vì có đông con nít chơi vui. Chị tôi lại bày những đứa lớn ru em nhỏ của
nó trong chiếc võng dù của nhà tôi. Và dĩ nhiên là chúng tôi chơi trò đu
bay và nhào lộn trên cái võng đó nữa. Rồi anh chị họ xuống ở tạm nhà tôi
trong một thời gian ngắn với những đứa con mới sinh mỗi đêm khóc ngằn
ngặt vì khát sữa bởi mẹ thiếu ăn. Và cái võng lại đung đưa dỗ dành giấc
ngủ cho những em bé đó. Không biết bao nhiêu đứa trẻ đã nằm ngủ hoặc
chơi đùa trên chiếc võng dù nhà tôi. Chẳng phải chỉ có đám con nít
mê cái võng mà người lớn cũng thích. Ai nằm trên cái võng cũng khen cái
võng trơn mượt và êm chứ không cứng và xót như những cái võng gai ở mua
ở chợ.
Năm 1985, ba tôi vào Mỹ Xuân mang theo cái võng dù đó. Cái võng
giăng trong nhà cho ba tôi nằm ngủ trưa, hoặc là cho khách ngả lưng qua
đêm khi đến thăm nhà tôi. Những ngày mưa, tôi không phải ra ruộng vườn,
được ở nhà nằm võng và đọc đi đọc lại một vài cuốn truyện tôi có được.
Rồi cái võng dù theo nhà tôi sang Mỹ. Nhà chung cư chật hẹp chẳng
có chỗ treo võng và vì phải bận rộn với công việc để thích nghi với cuộc
sống mới nên chẳng có thì giờ nằm võng. Nhưng khi những đứa cháu ra đời,
thì cái võng lại được đem ra đong đưa giấc ngủ cho từng đứa một. Cũng có
khi ông hay bà ôm cháu nằm trên võng và ngủ trưa với cháu nữa.
Cái võng dù cuối cùng về nhà tôi khi đứa con đầu tiên của vợ chồng
tôi ra đời. Ông xã tôi mắc cái võng dưới tán cây dâu tằm sau nhà vào
những ngày hè để tôi ru con ngủ. Ba năm sau đó chúng tôi có đứa con thứ
hai. Và cái võng lại mang ra khi hè tới là lúc tôi được ở nhà với các
con. Ba mẹ con nằm ngủ trưa trên võng như tôi đã từng ru cậu em út ngủ
lúc còn bé thơ. Rồi một hôm tôi quên tháo võng vào cuối ngày, mấy con
sóc quái quỷ rớt vào đó vũng vẫy rồi cắn rách một góc nhỏ. Tôi sợ võng
hư, tháo ra cất. Cất kỹ quá nên quên luôn cho đến hôm nay.
Sau khi nghe tôi kể về cái võng, cậu con nhỏ tôi đùa, “Vậy nhà mình
mở phòng triển lãm đồ cổ sau những cuộc chiến đi. Cái bàn gỗ của ông nội
của ba sau cuộc chiến Mỹ-Nhật và cái võng dù của ông ngoại sau cuộc
chiến Việt nam. Chắc là sẽ có nhiều người đến xem.” Cậu con lớn tôi thì
có vẻ tư lự một chút. Nó hỏi, “Có phải vì ông ngoại đi làm ở chỗ cái
võng đó mà bị đi tù cộng sản phải không? Mà công việc của ông ngoại là
gì vậy?” Tôi trả lời, “Đúng vậy. Ông ngoại làm cho cơ quan xây dựng nông
thôn ở Tiên Phước, một huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam.” Nó chần chừ
một chút rồi hỏi tiếp, “Xây dựng nông thôn thì tại sao phải đi tù tới 7
năm?” Tôi đáp, “Có lẽ cộng sản họ sợ nên bắt hết tất cả những người làm
việc với chính quyền miền Nam đi tù. Như ông ngoại của Ân Điển (là cháu
nội của ba tôi) là thầy hiệu trưởng của một trường tiểu học cũng đi tù 6
năm đó.” Nó lại hỏi, “Vậy ông nội của Thiên Phú (là con của em gái tôi)
có bị đi tù không?” Tôi gật đầu giải thích thêm, “Có. Ông đi tù hơn 13
năm. Nói chung là những người đàn ông họ hàng của mẹ đều đi tù cộng sản.
Ba của anh Tuấn đi tù 5 năm. Ông nội của Chiến đi 13 năm, ông ngoại của
Chiến 7 năm. Các bạn Việt Nam của mẹ ở đây đều có cha hay anh đi tù
nhiều năm. Vì vậy gia đình mẹ và những người đó được chính phủ Mỹ cho
phép sang đây định cư. Chúa thật nhân lành với họ hàng của mẹ.”
Tôi đã kể chuyện sau năm 1975 ở Việt Nam cho các con nghe nhiều lần,
nhưng có lẽ lần này chạm vào lòng cậu con lớn nhiều nhất. Nó ngồi cúi
đầu yên lặng nghe tôi kể. Tôi bảo nó, “Mẹ muốn chụp một tấm hình chiếc
võng này và viết một bài về nó. Con ra vườn mắc võng lên và nằm trên đó
cho mẹ chụp một tấm nhé.” Thường thì nó hay tránh chụp hình. Lúc
nào nó cũng đẩy cho thằng em, nhưng hôm nay nó yên lặng đứng lên theo
tôi đi ra vườn. Tôi chỉ cho nó kéo cái giá võng đến dưới tán cây apricot
và cây nectarine đang trổ hoa, rồi mắc cái võng lên. Nó ngồi xuống võng
lắc đưa một lúc, rồi nằm xuống cho tôi chụp hình. Khi chụp được một tấm
ưng ý, tôi báo cho nó biết nhưng nó vẫn nằm yên trên võng. Nó nói, “Cái
võng này êm thật. Nằm mát lưng chứ không như bí hơi cái võng ni lông mẹ
mua.” Dường như tôi đã nghe ai nói như vậy đâu đó rồi.
Tôi gởi tấm hình ông con nằm võng khoe với ba mẹ và các chị em tôi.
Mấy hôm sau cô em dâu tôi nhắn tin, “Mấy cô ơi! Hôm nay Ân Điển nhắc làm
sinh nhật 90 cho ông nội!” Tôi đọc dòng chữ ngắn ngủi đó mà tự nhiên
thấy mắt cay. Các cháu nội ngoại của ba tôi biết trân quý những năm
tháng tù đày của ba tôi. Tôi biết ơn Chúa đã cho ba mẹ và các chị em tôi
sang Mỹ cùng với nhiều bà con. Cảm ơn Chúa đã gìn giữ ba tôi trong những
năm tháng ở tù cải tạo của cộng sản và cho mẹ con tôi ở nhà dầu khổ cực
nhưng còn nguyên vẹn để bây giờ chúng tôi có được đại gia đình trên đất
nước này.
Gia đình chúng tôi sang Mỹ với vài món đồ chẳng đáng giá gì nhưng
cái võng dù bây giờ là kỷ vật của gia đình tôi. Ba tôi năm nay đã gần 90
nên không còn nhớ người nào ở Tiên Phước hơn 50 năm trước đã tặng ông
cái võng dù đó. “Nằm võng nhớ người mắc dây.” Tôi viết bài này như một
lời cảm ơn người đan chiếc võng dù. Cái võng rất đặc biệt này đã cho đám
con nít tụi tôi ngày xưa những phút giây vui vẻ thích thú. Rồi đám trẻ
ấy và rất nhiều người quen biết của gia đình tôi được nghỉ ngơi trên cái
võng mềm mại trong những ngày khổ cực sau năm 1975. Và mấy chục năm sau,
đám cháu nội ngoại của ba tôi sinh ra trên đất Mỹ cũng được ngủ ngon
lành trong cái võng đó. Tôi hy vọng sẽ thấy một thế hệ tiếp theo của gia
đình tôi đung đưa nằm ngủ trên cái võng dù từ Tiên Phước trong mươi năm
nữa.
Thủy Như
No comments:
Post a Comment